40 năm Đổi mới: Đột phá từ thể chế đến tư duy phát triển bền vững
Những quyết sách mang tính đột phá từ Đại hội XIV đã vạch ra con đường, lộ trình phát triển của dân tộc, khơi thông mọi nguồn lực để bứt phá trở thành quốc gia giàu mạnh, thịnh vượng.
Quang cảnh phiên bế mạc Đại hội XIV của Đảng. 
Ảnh: TTXVN.

Dưới góc nhìn kinh tế và thể chế, các chuyên gia thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đã phân tích sâu sắc về những giải pháp cốt lõi cho tầm nhìn chiến lược này.

Chuyển biến mang tính bước ngoặt về tư duy phát triển môi trường

Đánh giá về những thành quả nổi bật sau 40 năm đổi mới, Tiến sĩ Trần Văn Miều, Phó Chủ tịch Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam (Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam) nhận định, Việt Nam đã chuyển đổi thành công sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phá vỡ thế bao vây cấm vận, đất nước từng bước bứt phá, trở thành điểm sáng tăng trưởng và hội nhập ngày càng sâu vào kinh tế khu vực và thế giới, tạo nền tảng quan trọng cho giai đoạn phát triển mới. Quy mô GDP hiện đạt hơn 514 tỷ USD và GDP bình quân đầu người vượt 5.026 USD/năm. Song song với kinh tế, đất nước cũng đạt được những thành tựu toàn diện về hội nhập, phát triển hạ tầng, xóa đói giảm nghèo và nâng cao chỉ số phát triển con người.

Theo Tiến sĩ Trần Văn Miều, tư duy cốt lõi của Việt Nam đã có sự chuyển biến mang tính bước ngoặt: chuyển từ "khai thác thiên nhiên để tăng trưởng" sang mục tiêu "phát triển bền vững". Công tác bảo vệ môi trường và ứng phó biến đổi khí hậu đã được đặt làm nhiệm vụ trung tâm, lấy chuyển đổi xanh làm động lực. Cam kết chính trị mạnh mẽ nhất của Việt Nam chính là lồng ghép các tiêu chuẩn toàn cầu vào chiến lược quốc gia, nổi bật là mục tiêu đạt mức phát thải ròng bằng 0 (Net Zero) vào năm 2050 và chuyển hướng sang bảo tồn thiên nhiên gắn với chia sẻ lợi ích.

Tiến sĩ Trần Văn Miều, Phó Chủ tịch Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam.
Ảnh: TTXVN phát

Dù đạt nhiều thành tựu, quá trình công nghiệp hóa nhanh chóng cũng để lại không ít thách thức về môi trường. Từ góc nhìn chuyên gia, Tiến sĩ Trần Văn Miều chỉ ra 5 bài học cốt lõi để Việt Nam cân bằng giữa phát triển kinh tế và bảo vệ tự nhiên. Trước hết, cần hoàn thiện khung thể chế, chính sách quy định rõ trách nhiệm của chính quyền, doanh nghiệp, người dân và áp dụng các công cụ kinh tế để thúc đẩy mô hình kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn. Đồng thời, đổi mới công tác truyền thông nhằm nâng cao nhận thức, hướng cộng đồng và doanh nghiệp đến thói quen sản xuất, tiêu dùng bền vững. Khuyến khích và yêu cầu các doanh nghiệp ưu tiên phân phối sản phẩm thân thiện với môi trường, thiết lập hệ thống thu hồi và xử lý sản phẩm đã qua sử dụng. Cùng với đó, công tác quy hoạch phải dựa trên sức chịu tải của tự nhiên; mọi dự án đều phải đánh giá tác động môi trường minh bạch, tính đến khả năng phục hồi của hệ sinh thái và các kịch bản biến đổi khí hậu. Đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi số trong quản lý môi trường và bảo tồn đa dạng sinh học.

Nhằm hiện thực hóa các cam kết mạnh mẽ về môi trường trong giai đoạn tới, Tiến sĩ Trần Văn Miều cho rằng, Việt Nam cần chuyển đổi căn bản sang mô hình kinh tế tuần hoàn, hạ tầng xanh và chuyển đổi số, lấy hệ sinh thái làm trọng tâm. Trong đó, cần ưu tiên phát triển kinh tế carbon thấp bằng việc bắt buộc áp dụng thiết kế sinh thái để giảm rác thải nhựa và tăng tốc chuyển dịch năng lượng tái tạo; cần bảo tồn đa dạng sinh học dựa vào hệ sinh thái, đặc biệt chú trọng phục hồi hệ thống rừng ngập mặn để vừa hấp thụ carbon, vừa làm "lá chắn" tự nhiên phòng chống thiên tai.

Từ khi được phục hồi, rừng ngập mặn Bàu Cá Cái (thôn Thuận Phước, xã Vạn Tường, tỉnh Quảng Ngãi) thu hút nhiều loài chim về làm tổ.
 Ảnh: Phạm Cường/TTXVN

Tiến sĩ Trần Văn Miều đề cao vai trò của chuyển đổi số thông qua việc xây dựng cơ sở dữ liệu lớn (Big Data) để giám sát môi trường và dự báo rủi ro sớm. Cụ thể, Việt Nam cần khởi động các cơ chế tài chính xanh để thu hút dòng vốn FDI xanh, phát hành trái phiếu xanh và thúc đẩy thị trường tín chỉ carbon. "Việt Nam phải lấy người dân làm trung tâm của quá trình phát triển bền vững. Chỉ khi gắn chặt quyền lợi và trách nhiệm của mỗi cá nhân, cộng đồng, trường học, tôn giáo và doanh nghiệp vào quá trình chuyển đổi xanh, công tác bảo vệ môi trường mới thực sự mang lại hiệu quả lâu dài”, Tiến sĩ Trần Văn Miều nêu ý kiến.

Giải pháp kinh tế - thể chế đưa đất nước bứt phá đến năm 2045

Đồng quan điểm về tầm vóc của đất nước sau gần nửa thế kỷ đổi mới, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Văn Phúc, Chủ tịch Hội đồng Khoa học Viện Kinh tế và Pháp luật Quốc tế (Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam), nguyên Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản nhận thấy cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam đã được nâng lên một tầm cao mới chưa từng có.

Từ một quốc gia nghèo nàn, lạc hậu và chịu cảnh bao vây cấm vận, Việt Nam đã bứt phá ấn tượng về tăng trưởng kinh tế và xuất khẩu. Không chỉ đạt bước tiến lớn về kinh tế, đất nước còn ghi nhận những thành tựu vượt bậc trong công tác an sinh xã hội khi tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giảm sâu bền vững xuống còn 1,93%, đồng thời chỉ số hạnh phúc tăng mạnh. Đến nay, Việt Nam đã ký kết, tham gia 17 Hiệp định thương mại tự do (FTA); có quan hệ ngoại giao với 194 nước; đã thiết lập khuôn khổ đối tác toàn diện trở lên với 42 nước, trong đó có 17 thành viên G20, có quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với toàn bộ 5 nước Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Những kết quả này chính là bệ đỡ vững chắc, hội tụ cả thế và lực để đưa đất nước tự tin bước vào kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc. Tuy nhiên, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Văn Phúc cho rằng, việc chạm ngưỡng thu nhập trung bình cao mới chỉ là bước khởi đầu.

Hà Nội xứng tầm là Thủ đô của một đất nước năng động, đổi mới và phát triển. 
Ảnh minh họa: Vũ Sinh/TTXVN

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Văn Phúc đề xuất một số giải pháp toàn diện nhằm hiện thực hóa kỳ vọng đưa Việt Nam sớm đứng vào hàng ngũ các quốc gia phát triển, thu nhập cao, có nền kinh tế hiện đại, xã hội văn minh, người dân có đời sống vật chất và tinh thần ở mức cao, đất nước có vị thế xứng đáng trên trường quốc tế và hoàn thành mục tiêu chiến lược 100 năm thành lập nước vào năm 2045. Tước hết, về mặt kinh tế, giải pháp đột phá là đẩy mạnh chuyển đổi sang mô hình phát triển mới, kinh tế số, kinh tế dữ liệu, kinh tế xanh và lấy khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo làm động lực chính. Việt Nam cần chớp thời cơ từ Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo (AI) và công nghệ bán dẫn để "đi trước đón đầu", tăng nhanh tỷ trọng đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng. Đồng thời, cần hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm khơi thông mọi nguồn lực, thúc đẩy khối doanh nghiệp trong nước lớn mạnh và bảo vệ vững chắc lợi ích quốc gia - dân tộc trong môi trường quốc tế.

Một góc Thành phố Hồ Chí Minh. 
Ảnh: Tuấn Anh/TTXVN

Về mặt thể chế và quản trị, giải pháp then chốt là đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của Đảng và tập trung xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Cụ thể, đổi mới quản trị lấy "Dân làm gốc" và tinh gọn bộ máy, tiếp tục tinh giản bộ máy Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Mọi đạo luật, chính sách được Quốc hội thông qua phải lấy sự an toàn, hài lòng và hạnh phúc của nhân dân làm tiêu chuẩn cốt lõi. Đồng thời, phát huy tối đa quyền làm chủ trực tiếp của nhân dân, kết hợp nhuần nhuyễn giữa "ý Đảng, lòng dân" để tạo nên sức mạnh tổng hợp đưa đất nước sánh vai với các cường quốc năm châu./.


Tin liên quan


Tin cùng chuyên mục

Nghị quyết số 10-NQ/TW: Định vị chiến lược thu hút FDI theo hướng chất lượng cao

Với hơn 146,8 tỷ USD vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) lũy kế từ trước đến nay, TP. Hồ Chí Minh đã khẳng định vị thế thu hút đầu tư hàng đầu cả nước. Sau khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8 tháng 6 năm 2026 về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, Thành phố đang tiên phong bước vào một cuộc chuyển dịch mang tính lịch sử: Không thu hút FDI bằng mọi giá mà định vị lại mối quan hệ đối tác, sẵn sàng tạo điều kiện tốt nhất, cầu thị nhưng kiên quyết sàng lọc dòng vốn kém chất lượng, hướng tới phát triển thực chất, xanh, số và bền vững.

Dòng điện thắp sáng vùng biên – Bài cuối: Vững tin nơi tuyến đầu

Trên tuyến biên giới phía Tây tỉnh Lâm Đồng, điện lưới quốc gia không chỉ băng qua núi rừng để mang ánh sáng đến các bản làng, vùng sản xuất hay những đồn biên phòng mà còn nối dài thế trận lòng dân. Sau mỗi cột điện, mỗi km đường dây là hành trình của những người thợ điện giữ cho dòng năng lượng luôn thông suốt, của những người lính ngày đêm bám biên cương và của những người dân bền bỉ bám đất, phát triển sinh kế.

Dòng điện thắp sáng vùng biên - Bài 1: Sức bật cho phát triển kinh tế

Không chỉ đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của người dân, điện lưới quốc gia đang trở thành hạ tầng thiết yếu, tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội tại các xã biên giới phía Tây tỉnh Lâm Đồng. Từ những vùng còn nhiều khó khăn, hệ thống điện ngày càng được đầu tư đồng bộ đã mở ra điều kiện để phát triển sản xuất, nâng cao đời sống nhân dân, thu hẹp khoảng cách giữa vùng biên với các địa bàn khác. Đây là nỗ lực của các đơn vị thành viên Tổng công ty Điện lực Miền Nam trong nhiều năm qua, với các dự án đầu tư hạ tầng lưới điện đến cơ sở, nhất là tại các khu vực biên giới, hải đảo, vùng đi lại khó khăn.

Đánh thức dư địa tăng trưởng từ sản phẩm OCOP

Từ những búp chè Shan tuyết trên núi cao, mật ong bạc hà nơi cao nguyên đá đến những sản vật gắn với tri thức và văn hóa bản địa, sản phẩm OCOP của Tuyên Quang đang từng bước vượt khỏi không gian sản xuất nhỏ lẻ để tiếp cận thị trường rộng lớn hơn. Trong yêu cầu tìm kiếm những động lực mới cho tăng trưởng, OCOP không còn đơn thuần là câu chuyện xây dựng sản phẩm đặc trưng, mà đang mở ra dư địa gia tăng giá trị nông nghiệp, thúc đẩy thương mại, dịch vụ và du lịch.

Tạo “lá chắn” an toàn, giảm tai nạn thương tâm cho trẻ em

Trước tình trạng tai nạn thương tích, đặc biệt là đuối nước ở trẻ em vẫn diễn biến phức tạp khi bước vào dịp hè, thành phố Đồng Nai đang quyết liệt triển khai đồng bộ nhiều giải pháp: Từ việc đẩy mạnh dạy bơi trong trường học đến nâng cao nhận thức cho phụ huynh, địa phương quyết tâm xây dựng một “lá chắn” an toàn, giảm thiểu tối đa những tai nạn thương tâm cho học sinh.

Mái ấm Công đoàn - Điểm tựa để người lao động an cư

Có một thực tế, với nhiều người lao động có thu nhập thấp, điều khiến họ trăn trở không chỉ là bữa cơm hằng ngày, mà còn là một nơi ở đủ vững chãi để cả gia đình yên tâm trước mỗi mùa mưa bão. Khi đồng lương chủ yếu dành cho cuộc sống thường nhật và nuôi con ăn học, giấc mơ về một ngôi nhà kiên cố trở nên rất khó với tới. Hiểu được điều đó, gần 20 năm qua, Chương trình "Mái ấm Công đoàn" đã trở thành điểm tựa của hàng chục nghìn đoàn viên trên cả nước.