![]() |
| Toàn cảnh nhà máy điện khí LNG Nhơn Trạch 3&4. Ảnh: A.N/Bnews/vnanet.vn |
Nghị quyết số 70-NQ/TW ngày 20/8/2025 của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 khẳng định: “Bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng quốc gia là nền tảng, là tiền đề quan trọng để phát triển đất nước, là bộ phận quan trọng của an ninh quốc gia. Phát triển năng lượng được ưu tiên cao nhất để đáp ứng yêu cầu tăng trưởng liên tục trên 10% trong giai đoạn tới, thực hiện hai mục tiêu 100 năm của đất nước”.
Theo Chủ tịch Tập đoàn Công nghiệp-Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) Lê Ngọc Sơn, nhu cầu năng lượng của Việt Nam sẽ tiếp tục tăng mạnh, kéo theo áp lực rất lớn với đầu tư phát triển nguồn điện. Theo tính toán, để đáp ứng tăng trưởng GDP khoảng 10%, nhu cầu điện phải tăng từ 12-15% mỗi năm, tương đương bổ sung 7.000-8.000 MW công suất mới.
Cùng quan điểm này, TS Nguyễn Đình Hòa, Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới dự báo để tăng trưởng kinh tế 2 con số (giả định là 10%), tổng tiêu thụ năng lượng cần phải tăng tối thiểu là 8% nhưng tiêu thụ năng lượng cao cũng đồng nghĩa với nguy cơ gia tăng mức độ phát thải khí nhà kính.
Để hiện thực mục tiêu “năng lượng đi trước một bước”, đáp ứng yêu cầu tăng trưởng kinh tế 2 con số, đồng thời giảm phát thải khí nhà kính, Petrovietnam đang tập trung đầu tư vào các cụm điện khí LNG. Dự án Nhơn Trạch 3&4-nhà máy điện khí LNG nhập khẩu đầu tiên của Việt Nam đã đi vào vận hành, mở ra bước tiến quan trọng cho chuyển dịch năng lượng.
Theo Chủ tịch Petrovietnam Lê Ngọc Sơn, các trung tâm điện khí LNG cần được quy hoạch với quy mô từ 3.000-5.000 MW, thay vì các dự án đơn lẻ khoảng 1.500 MW nhằm giảm từ 20-30% chi phí hạ tầng kho cảng LNG, đồng thời tiết kiệm khoảng 10% chi phí xây dựng nhà máy nhờ áp dụng mô hình chuẩn hóa. Ngoài ra, các trung tâm LNG còn có thể tận dụng nhiệt lạnh trong quá trình hóa khí để phục vụ các trung tâm dữ liệu, gia tăng hiệu quả tổng thể đầu tư.
Bên cạnh đó, với vai trò tiên phong trong chuyển dịch năng lượng và đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, với lợi thế đặc thù về chuỗi giá trị năng lượng, Petrovietnam cũng đang tập trung phát triển các trung tâm công nghiệp - năng lượng sinh thái quy mô lớn. Cụ thể, Petrovietnam và các đơn vị thành viên đã xúc tiến nghiên cứu đưa ra Đề án mô hình trung tâm công nghiệp - năng lượng sinh thái tại Vũng Áng (Hà Tĩnh) với 3 trụ cột: Năng lượng (điện khí LNG giữ vai trò hạt nhân), công nghiệp và dịch vụ logistics - hậu cần kỹ thuật.
Petrovietnam cũng đề xuất xây dựng Trung tâm Công nghiệp-năng lượng sinh thái Petrovietnam tại phường Ô Môn, Thành phố Cần Thơ. Theo ông Nguyễn Văn Tư - Phó Viện trưởng Viện Dầu khí Việt Nam, mô hình Trung tâm này là giải pháp chiến lược và toàn diện của Petrovietnam nhằm góp phần đảm bảo an ninh năng lượng, an ninh lương thực quốc gia và thực hiện cam kết giảm phát thải ròng khí nhà kính bằng 0 (Net Zero) vào năm 2050, góp phần phát triển kinh tế thành phố Cần Thơ và Đồng bằng sông Cửu Long.
Đây là mô hình phát triển mới, vượt trội so với các khu công nghiệp, hay khu kinh tế truyền thống, được định hình bởi 4 đặc điểm nổi bật cốt lõi: Tích hợp sâu và cộng sinh công nghiệp, kiến tạo một hệ sinh thái tuần hoàn, tối ưu hóa toàn bộ chuỗi giá trị; dẫn dắt công nghệ cao, tiên phong ứng dụng biorefinery (tích hợp các quy trình chuyển đổi sinh khối thành các sản phẩm có giá trị cao bao gồm nhiên liệu sinh học, hóa chất, điện và nhiệt), nhiên liệu sạch hydrogen, amoniac xanh; thu hồi, sử dụng, lưu trữ khí CO2 (CCUS); tạo động lực tăng trưởng kinh tế và có đủ sức cạnh tranh trong khu vực.
Cùng với đề xuất về Trung tâm Công nghiệp-năng lượng sinh thái, Petrovietnam cũng tập trung đẩy mạnh nghiên cứu phát triển điện gió ngoài khơi nhằm tận dụng tiềm năng điện gió ngoài khơi của Việt Nam có thể đạt từ 600-1.000 GW, trong khi tổng công suất hệ thống điện hiện nay mới khoảng 84-85 GW. Hiện Petrovietnam đang đề xuất Bộ Công Thương hoàn thiện khung chính sách cho lĩnh vực này.
Trong góp ý dự thảo Luật Điện lực (sửa đổi), TS Hoàng Xuân Quốc, Phó Ban Tư vấn Phản biện, Hội Dầu khí Việt Nam chỉ rõ các hoạt động khảo sát điện gió ngoài khơi chủ yếu bao gồm đo gió, đo sóng và khảo sát địa chất đáy biển không phức tạp hơn so với hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí ngoài khơi. Tuy nhiên, trên thực tế, các quy định liên quan đến khảo sát hiện nay lại khiến quá trình triển khai gặp nhiều khó khăn, có thể làm gia tăng chi phí và rủi ro cho doanh nghiệp, từ đó ảnh hưởng đến tiến độ phát triển các dự án.
![]() |
| Các tuabin gió của nhà máy điện gió Mũi Dinh. Ảnh: Công Thử - TTXVN |
Vì vậy, giải pháp hợp lý là Nhà nước nên coi điện gió ngoài khơi là một dạng tài nguyên quốc gia. Trên cơ sở đó, một cơ quan của Nhà nước có thể thực hiện các khảo sát ban đầu, đánh giá sơ bộ tiềm năng nguồn gió, sau đó phân chia khu vực thành các lô để tổ chức đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư, TS Hoàng Xuân Quốc đề xuất.
Đặc biệt, để hiện thực mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính khi gia tăng tiêu thụ năng lượng cho tăng trưởng 2 con số, Việt Nam cần có các quy định và chế tài về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả mang tính bắt buộc thay vì khuyến khích để phù hợp với các cam kết của Chính phủ trước cộng đồng quốc tế về đưa phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, Tiến sỹ Nguyễn Đình Hòa chỉ rõ./.


