![]() |
| Sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế biển đã mang lại nhiều cơ hội cho Việt Nam. Ảnh minh họa |
Sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế biển đã mang lại nhiều cơ hội cho Việt Nam, đồng thời cũng đặt ra những thách thức ngày càng lớn đối với việc bảo vệ môi trường biển. Từ những vùng nuôi trồng thủy sản ven bờ, các vịnh du lịch nổi tiếng đến những khu bảo tồn biển giàu đa dạng sinh học, dấu vết của rác thải nhựa, nguồn thải từ đất liền và khai thác thiếu bền vững vẫn hiện hữu mỗi ngày. Trong bối cảnh đó, bảo vệ môi trường biển không còn là khẩu hiệu mà đã trở thành điều kiện sống còn để giữ gìn sinh kế, đa dạng sinh học và tương lai của nền kinh tế biển Việt Nam.
Việt Nam có hơn 3.260 km bờ biển cùng hàng nghìn đảo, quần đảo. Biển không chỉ là không gian sinh tồn mà còn là động lực tăng trưởng quan trọng của đất nước. Các ngành cảng biển, vận tải, du lịch, nuôi trồng thủy sản hay năng lượng tái tạo đang đóng góp ngày càng lớn cho nền kinh tế. Nhưng đi cùng với tăng trưởng là áp lực môi trường ngày một nặng nề: đô thị hóa ven biển, giao thông hàng hải, khai thác khoáng sản, nuôi biển mật độ cao và lượng chất thải từ đất liền đổ ra biển qua các hệ thống sông ngòi.
Cục trưởng Cục Biển và Hải đảo Việt Nam Nguyễn Quốc Toản cảnh báo, nếu không kiểm soát chất thải ngay từ nguồn, nhiều khu vực ven biển sẽ suy giảm chất lượng môi trường, các hệ sinh thái quan trọng như rạn san hô, cỏ biển, rừng ngập mặn sẽ tiếp tục bị tổn thương và đe dọa trực tiếp sinh kế của cộng đồng cư dân ven biển. Điều đáng lo ngại là những tổn thương này thường diễn ra âm thầm nhưng để lại hậu quả lâu dài, khó phục hồi.
Thực tế cho thấy, môi trường biển không chỉ chịu tác động từ những “điểm nóng” công nghiệp hay đô thị lớn. Ngay cả những vùng nuôi biển truyền thống cũng đang đối mặt với sức ép rác thải ngày càng lớn. Ở Khánh Hòa, nơi vịnh Vân Phong được xem là vùng nuôi biển đầy tiềm năng cho tôm hùm và cá biển công nghệ cao, lượng phao xốp hư hỏng, túi nilon, bao bì thức ăn và rác sinh hoạt phát sinh tại các vùng nuôi tập trung đã từng tạo áp lực đáng kể lên môi trường.
Chi cục trưởng Chi cục Thủy sản và Biển đảo tỉnh Khánh Hòa Lê Đình Khiêm nhấn mạnh rằng môi trường sạch là nền tảng của nuôi biển bền vững; nuôi biển muốn phát triển lâu dài thì trước hết phải giữ được môi trường.Thông điệp ấy không chỉ đúng với Khánh Hòa mà còn đúng với toàn bộ chiến lược phát triển kinh tế biển xanh của Việt Nam. Ở nhiều địa phương, tư duy này đang dần chuyển thành hành động cụ thể.
Quảng Ninh là một ví dụ điển hình. Là địa phương phát triển mạnh về du lịch, hàng hải và nuôi biển, Quảng Ninh đã sớm nhận ra rằng nếu không bảo vệ vịnh Hạ Long và hệ sinh thái biển, lợi thế cạnh tranh lớn nhất của tỉnh sẽ bị bào mòn. Việc tiên phong thay thế hoàn toàn phao xốp bằng vật liệu nổi HDPE trong nuôi trồng thủy sản, di dời các cơ sở nuôi trái phép và triển khai chương trình “Vịnh Hạ Long không rác thải nhựa” cho thấy một cách tiếp cận quyết liệt hơn với môi trường biển.
Kết quả quan trắc gần đây cho thấy chất lượng nước vịnh Hạ Long ở mức tốt và có xu hướng cải thiện, trong đó hệ sinh thái rạn san hô bắt đầu có dấu hiệu phục hồi. Đây là minh chứng rõ ràng rằng khi quản lý nghiêm, đầu tư đúng hướng và có sự tham gia của cộng đồng, môi trường biển có thể phục hồi.
Ở Quảng Trị, câu chuyện bảo tồn biển đảo Cồn Cỏ lại mở ra một hướng đi khác: bảo vệ biển không chỉ là “giữ nguyên hiện trạng” mà phải chủ động phục hồi hệ sinh thái. Với 954 loài sinh vật biển đã được ghi nhận, cùng hệ sinh thái rạn san hô còn tương đối nguyên vẹn, Cồn Cỏ là một “kho báu” đa dạng sinh học. Ban quản lý Khu bảo tồn biển đảo Cồn Cỏ đang triển khai các giải pháp như nuôi cấy san hô, trồng rừng ngập mặn, tái tạo nguồn lợi thủy sản và ứng dụng AI, viễn thám vào giám sát môi trường biển. Cách làm này phản ánh một tư duy mới: bảo tồn biển không thể chỉ dựng rào cấm khai thác, mà phải phục hồi hệ sinh thái và tạo sinh kế bền vững cho cộng đồng địa phương.
PGS.TS Nguyễn Chu Hồi, Phó Chủ tịch thường trực Hội Thủy sản Việt Nam cho rằng, biển là không gian ba chiều với nhiều mục đích sử dụng khác nhau, nên cần chuyển từ mô hình quản lý đơn ngành sang quản lý tổng hợp, liên ngành. Theo ông Nguyễn Chu Hồi, công cụ quản lý phải dựa trên hệ sinh thái biển. Nghĩa là thay vì chỉ quản lý một loài hay một hoạt động riêng lẻ, cần quản lý cả môi trường sống và các yếu tố tác động đến hệ sinh thái đó. Đây là cách tiếp cận đang được nhiều quốc gia áp dụng trong quản trị biển hiện đại.
Quan điểm này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh Việt Nam đang sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo. Nếu chỉ tiếp cận theo cách quản lý truyền thống, rất khó đạt mục tiêu vừa phát triển kinh tế biển xanh vừa bảo tồn đa dạng sinh học. Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2030 diện tích các khu bảo tồn biển và ven biển đạt khoảng 6% diện tích tự nhiên vùng biển quốc gia, nhưng theo ông Hồi, điều quan trọng không chỉ là tăng diện tích bảo tồn mà là khả năng phục hồi hệ sinh thái và tạo hiệu ứng lan tỏa sinh học cho các vùng biển xung quanh.
Bảo vệ môi trường biển cũng không thể thành công nếu thiếu sự tham gia của cộng đồng. Những mô hình nhỏ nhưng giàu ý nghĩa như đặt thùng rác hình con cá với thông điệp “Để biển luôn xanh - Hãy cho tôi rác nhựa!” tại các khu vực ven biển, cảng cá, bến tàu đã góp phần thay đổi thói quen của người dân và du khách. Ở các làng chài Quảng Ninh, mô hình “Làng cá văn minh” đang hướng tới xây dựng cộng đồng ngư dân đoàn kết, khai thác thủy sản có trách nhiệm và bảo vệ môi trường biển như một phần của văn hóa làng chài.
Bảo vệ biển cần bắt đầu từ những hành động rất đời thường: không xả rác xuống biển, thu gom rác sau mỗi chuyến đánh bắt, sử dụng vật liệu thân thiện môi trường trong nuôi biển, hạn chế nhựa dùng một lần trong du lịch biển. Nhưng để những hành động nhỏ trở thành thay đổi lớn, cần có một hệ thống chính sách đồng bộ hơn: kiểm soát chặt nguồn thải ven biển, áp dụng trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR), thúc đẩy kinh tế tuần hoàn và tăng cường giám sát ô nhiễm bằng công nghệ hiện đại.
Giữ biển xanh không chỉ để bảo vệ thiên nhiên. Đó còn là bảo vệ sinh kế của hàng triệu người dân ven biển, bảo vệ ngành du lịch, ngành thủy sản và cả khát vọng phát triển biển quốc gia mạnh./.

