Chống ngập đô thị không chỉ chạy theo những trận mưa
Những dự án chống ngập quy mô hàng nghìn tỷ đồng đang được Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh đẩy nhanh triển khai không chỉ nhằm giải quyết những điểm úng ngập trước mắt, mà còn từng bước nâng sức chống chịu của hai đô thị lớn trước các hình thái thời tiết ngày càng cực đoan.
Những trận mưa lớn giữa tháng 9 một lần nữa cho thấy sức ép đối với hạ tầng thoát nước đô thị. Ảnh minh họa: Phan Phương – TTXVN

Những dự án chống ngập quy mô hàng nghìn tỷ đồng đang được Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh đẩy nhanh triển khai không chỉ nhằm giải quyết những điểm úng ngập trước mắt, mà còn từng bước nâng sức chống chịu của hai đô thị lớn trước các hình thái thời tiết ngày càng cực đoan. Những trận mưa lớn giữa tháng 9 một lần nữa cho thấy sức ép đối với hạ tầng thoát nước đô thị. Nhiều khu vực tại Hà Nội vẫn xảy ra úng ngập cục bộ, trong khi TP Hồ Chí Minh cùng lúc phải ứng phó với mưa lớn, triều cường, nền đất thấp và quá trình đô thị hóa nhanh.

Việc một số điểm ngập vẫn xuất hiện trong quá trình các dự án đang được triển khai không đồng nghĩa với hiệu quả đầu tư bị phủ nhận. Các thành phố đang giải “bài toán khó” bằng những công trình có tính hệ thống, thay vì chỉ xử lý từng điểm ngập riêng lẻ. Từ đó, tạo ra những năng lực hạ tầng đủ mạnh mà đô thị sẽ tiếp tục cần đến trong nhiều thập kỷ tới.

* Không thể chạy đua với nước bằng từng công trình riêng lẻ

Tại Hà Nội, thành phố đã triển khai 10 dự án chống ngập khẩn cấp với tổng vốn hơn 5.500 tỷ đồng, tập trung vào các công trình thoát nước, hồ điều hòa, trạm bơm và những khu vực thường xuyên xảy ra úng ngập. Đến tháng 8/2026, nhiều công trình đã hoàn thành, bổ sung năng lực trữ và tiêu thoát nước cho khu vực nội đô.

Ý nghĩa của các dự án này trước hết nằm ở khả năng giải quyết những "nút thắt" cụ thể trong hệ thống. Khi một hồ điều hòa được bổ sung, một trạm bơm được nâng công suất hay một tuyến cống được cải tạo, khả năng tiếp nhận và tiêu thoát nước của cả khu vực có thể được cải thiện.

Trong điều kiện các trận mưa lớn thường tập trung trong thời gian ngắn, việc tăng thêm năng lực trữ nước và tiêu thoát nước có giá trị đặc biệt. Chỉ cần rút ngắn thời gian nước đọng trên đường cũng có thể giúp giảm ùn tắc giao thông, hạn chế thiệt hại tài sản và giảm gián đoạn hoạt động sản xuất, kinh doanh.

PGS.TS Nguyễn Hồng Tiến, nguyên Cục trưởng Cục Hạ tầng kỹ thuật (Bộ Xây dựng) cho rằng, tình trạng ngập úng tại Hà Nội chịu tác động đồng thời của mưa cực đoan và quá trình đô thị hóa, bê tông hóa bề mặt. Khi lượng nước tập trung nhanh trong thời gian ngắn, hệ thống thoát nước dễ bị quá tải.Điều này cho thấy giá trị của các dự án chống ngập không chỉ nằm ở việc "xóa" một điểm ngập mà mỗi công trình là một mắt xích bổ sung cho năng lực chống chịu của đô thị.

Theo đó, một hồ điều hòa có thể giữ lại lượng nước đáng kể trong thời điểm mưa lớn, giảm áp lực tức thời lên hệ thống cống. Một trạm bơm có công suất phù hợp giúp đẩy nhanh quá trình tiêu nước. Một tuyến cống được mở rộng có thể tăng khả năng dẫn nước về các công trình đầu mối. Vì thế, hiệu quả cần được đánh giá trong mối liên hệ với toàn bộ lưu vực.

Theo Sở Xây dựng Hà Nội, thành phố hiện có khoảng 5.050 ha hồ điều hòa nhưng mới đầu tư chưa đến 20%; hệ thống trạm bơm cũng mới được đầu tư khoảng 20% công suất theo quy hoạch. Nhu cầu vốn cho chống ngập giai đoạn 2026-2030 có thể khoảng 20.000 tỷ đồng trong điều kiện lượng mưa hiện tại và lên tới 40.000 tỷ đồng nếu tính đến các kịch bản thời tiết cực đoan.

Những con số này cho thấy các dự án đang triển khai mới là một phần trong nhu cầu đầu tư rất lớn. Nhưng cũng chính từ đó có thể thấy ý nghĩa của từng công trình đã và đang được hoàn thành, đó là mỗi dự án đều góp phần thu hẹp khoảng cách giữa năng lực hạ tầng hiện hữu và yêu cầu thực tế của một đô thị ngày càng lớn.

Do vậy hiệu quả chống ngập không nên chỉ nhìn qua việc còn ngập hay không. Bởi một hệ thống tốt hơn có thể được nhận diện bằng việc giảm số điểm ngập, giảm độ sâu, rút ngắn thời gian ngập và hạn chế phạm vi ảnh hưởng.

Đặc biệt, với những đô thị có quy mô kinh tế lớn như Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh thì vài giờ gián đoạn giao thông hoặc sản xuất trong một trận mưa lớn cũng có thể kéo theo chi phí xã hội đáng kể. Vì vậy, năng lực tiêu thoát nước cần được nhìn như một bộ phận của hạ tầng kinh tế, chứ không chỉ là một hạng mục kỹ thuật phục vụ mùa mưa.

* "Hạ tầng bảo hiểm" của đô thị

Không giống Hà Nội, TP Hồ Chí Minh lại đang đứng trước một “phép thử” khác. Dự án Giải quyết ngập do triều khu vực TP. Hồ Chí Minh có xét đến yếu tố biến đổi khí hậu, tổng mức đầu tư gần 10.000 tỷ đồng, được thiết kế kiểm soát ngập cho khu vực khoảng 570 km2 với khoảng 6,5 triệu dân. Sau nhiều năm đình trệ, dự án được tái khởi động và thúc đẩy hoàn thành trong năm 2026. Đến giữa năm nay, dự án đạt hơn 93% khối lượng.

Chủ tịch UBND TP. Hồ Chí Minh Nguyễn Văn Được cho biết, Thành phố đang phối hợp với các ngân hàng nhằm tạo điều kiện để nhà đầu tư tiếp tục tiếp cận nguồn vốn, qua đó hoàn thành công trình theo kế hoạch.

Ở đây, tiến độ không đơn thuần là vấn đề hành chính. Một công trình chống ngập chỉ tạo ra giá trị xã hội khi có thể vận hành đồng bộ. Mỗi năm dự án chậm đưa vào sử dụng cũng đồng nghĩa người dân và nền kinh tế phải tiếp tục chịu rủi ro mà công trình được thiết kế để giảm thiểu. Tuy nhiên, ngay cả khi dự án gần 10.000 tỷ đồng hoàn thành, TP. Hồ Chí Minh vẫn cần tiếp tục đầu tư cho mạng lưới thoát nước nội đô.

Ý nghĩa của công trình nằm ở quy mô tác động. Đây không còn là câu chuyện xử lý một tuyến đường hay một khu dân cư, mà là xây dựng một hệ thống kiểm soát nguồn nước trên phạm vi rộng, qua đó giảm nguy cơ ngập do triều đối với một khu vực dân cư và kinh tế quan trọng của thành phố.

Từ góc độ kinh tế, đây là loại hạ tầng ít khi được nhìn thấy đầy đủ giá trị nếu chỉ tính bằng doanh thu trực tiếp. Một công trình chống ngập không tạo ra sản phẩm hàng hóa để bán, nhưng có thể giúp bảo vệ nhà cửa, đường sá, phương tiện, nhà máy, cửa hàng và hoạt động dịch vụ khỏi thiệt hại do ngập nước.

Giá trị đó càng lớn khi đặt trong bối cảnh TP. Hồ Chí Minh là một trong những trung tâm kinh tế, thương mại và dịch vụ lớn nhất cả nước. Tuy nhiên, hiệu quả của dự án cũng không thể tách khỏi hệ thống thoát nước nội đô. Kiểm soát triều giúp giải quyết một nguồn gây ngập quan trọng, nhưng mưa lớn, nền đất thấp, sụt lún và đô thị hóa vẫn tạo ra những áp lực khác.

Do đó, công trình gần 10.000 tỷ đồng này nên được xem là một cấu phần quan trọng trong mạng lưới chống ngập của thành phố, chứ không phải lời giải duy nhất.

Cách nhìn này cũng phù hợp với Hà Nội. Một trạm bơm, hồ điều hòa hay tuyến cống mới chỉ phát huy tối đa hiệu quả khi được kết nối với các công trình khác. Khi các mắt xích được hoàn thiện và vận hành đồng bộ, năng lực chống chịu của cả đô thị sẽ tăng lên theo cấp số của hệ thống, thay vì chỉ cộng thêm hiệu quả của từng dự án riêng lẻ.

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, đây chính là ý nghĩa dài hạn của các dự án chống ngập lớn. Các đô thị không thể dựa mãi vào những dữ liệu khí hậu của quá khứ để thiết kế hạ tầng cho tương lai. Những trận mưa cực đoan, triều cường và các hiện tượng thời tiết bất thường đang đặt ra yêu cầu phải có dư địa năng lực cho hệ thống.

Vì vậy, đầu tư chống ngập có thể được nhìn như một dạng "hạ tầng bảo hiểm". Chi phí được bỏ ra trước để giảm những tổn thất có thể xảy ra sau này.

Một hồ điều hòa không tạo doanh thu trực tiếp như dự án nhà ở hay trung tâm thương mại, nhưng có thể giúp giảm thiệt hại cho hàng nghìn hộ dân. Một tuyến cống lớn không tạo ra giá trị thương mại trực tiếp, nhưng có thể duy trì giao thông và hoạt động kinh doanh trong những giờ mưa lớn. Một hệ thống kiểm soát triều không làm tăng ngay quy mô nền kinh tế nhưng lại có thể bảo vệ một khu vực rộng lớn khỏi những rủi ro có khả năng gây thiệt hại lớn. Đó là những lợi ích khó nhìn thấy trong ngày công trình khánh thành nhưng lại có ý nghĩa lâu dài đối với nền kinh tế đô thị.

Từ Hà Nội đến TP. Hồ Chí Minh, điều cần thiết hiện nay không phải là kỳ vọng một vài dự án có thể lập tức chấm dứt hoàn toàn ngập úng. Thực tế đô thị phức tạp hơn nhiều.

Theo các chuyên gia, điều đáng kỳ vọng là các khoản đầu tư lớn đang từng bước tạo ra một hệ thống có năng lực tốt hơn: chứa được nhiều nước hơn, tiêu thoát nhanh hơn, kiểm soát tốt hơn các nguồn gây ngập và giảm thiệt hại khi xuất hiện những trận mưa, đợt triều vượt ngưỡng thông thường.

Khi đánh giá một dự án chống ngập, câu hỏi quan trọng không chỉ là đã hết ngập chưa mà còn là đã giảm được bao nhiêu rủi ro và bảo vệ được bao nhiêu giá trị kinh tế - xã hội. Sau một trận mưa lớn, thời gian nước rút được ngắn lại, phạm vi ngập thu hẹp, giao thông ít bị gián đoạn hơn và người dân, doanh nghiệp giảm được thiệt hại, đó chính là hiệu quả thiết thực của những khoản đầu tư hàng nghìn tỷ đồng.

Nếu các công trình hôm nay tiếp tục được kết nối với quy hoạch, mạng lưới thoát nước và những giải pháp thích ứng dài hạn, giá trị của chúng không chỉ nằm ở việc giải quyết những trận mưa hiện tại, mà còn ở khả năng giúp các đô thị tiếp tục phát triển trong điều kiện khí hậu ngày càng khó lường./.

Tin liên quan

Mở cánh cửa số, tạo động lực phát triển kinh tế biển

Phong trào “Bình dân học vụ số” hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị được xã đảo Long Sơn (Thành phố Hồ Chí Minh) quyết liệt triển khai theo phương châm “đi từng ngõ, gõ từng nhà, rà từng bè” gần gũi với dân, sát thực tế, đang tạo ra luồng sinh khí mới ở nơi bốn bề sóng nước. Từng là xã đảo gần như biệt lập bởi hệ thống sông, vịnh, rừng ngập mặn dày đặc bao quanh, Long Sơn đang xóa nhòa mọi ranh giới bằng giải pháp công nghệ. Cánh cửa phát triển vươn ra biển lớn đang rộng mở cho xã đảo.

Bảo tồn hệ sinh thái của vùng Đồng Tháp Mười thu nhỏ ở Đồng Tháp

Khu bảo tồn sinh thái Đồng Tháp Mười, xã Tân Phước 2, tỉnh Đồng Tháp, được xem như một vùng Đồng Tháp Mười thu nhỏ với hệ sinh thái đất ngập nước chua phèn mang nét đặc trưng và hệ động thực vật phong phú. Khu bảo tồn sinh thái Đồng Tháp Mười đang tích cực bảo tồn sự đa dạng sinh học, bởi đây là tài sản vô giá, là nền tảng cho phát triển kinh tế - xã hội bền vững.

Metro và TOD mở không gian phát triển mới cho TP. Hồ Chí Minh

TP. Hồ Chí Minh bổ sung hai tuyến đường sắt đô thị vào danh mục ưu tiên đầu tư, hoàn thành trong giai đoạn 2026 - 2030. Điều này cũng đồng nghĩa với việc tổng số tuyến metro ưu tiên thực hiện giai đoạn đến năm 2030 lên 8 tuyến với 255 km, vượt 55 km so với mục tiêu đặt ra trong Nghị quyết 09-NQ/TW của Bộ Chính trị.

Gắn phát triển đô thị với giải quyết nhu cầu nhà ở

Với quy mô không gian phát triển mới sau sắp xếp đơn vị hành chính, tỉnh Tây Ninh đang tập trung hoàn thiện Chương trình phát triển đô thị theo hướng đồng bộ quy hoạch, phát triển đô thị với nhu cầu nhà ở, nhất là nhà ở xã hội

Tin cùng chuyên mục

Chuyên gia gợi ý hướng đi giúp Việt Nam tạo đột phá trong công nghệ sinh học cây trồng

Việt Nam có nhiều lợi thế để tạo đột phá trong công nghệ sinh học cây trồng nếu biết khai thác nguồn tài nguyên di truyền phong phú, ứng dụng các công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo (AI), chỉnh sửa gene và tăng cường liên kết giữa nghiên cứu với doanh nghiệp. Tiến sĩ Quách Truyền, chuyên gia trong lĩnh vực công nghệ sinh học thực vật, đã khẳng định như vậy trong cuộc trả lời phỏng vấn với phóng viên TTXVN tại Washington về nông nghiệp công nghệ cao của Mỹ và kinh nghiệm đối với Việt Nam.

Bài 5. Con đường đã rộng mở: Vững tin vươn khơi, khẳng định Việt Nam là quốc gia biển mạnh

Từ những dải đất ven biển trải dài từ Quảng Ninh đến Cà Mau, những mạch nguồn phát triển từ biển đang dần được kết nối trong một không gian rộng lớn hơn. Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, cũng đã xác lập một tầm nhìn chiến lược mới. Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) đang tháo gỡ những điểm nghẽn thể chế. Trong khi đó, việc sắp xếp đơn vị hành chính đang mở ra không gian, dư địa và lợi thế mới cho phát triển.

Bài 4. Từ rừng núi ra biển lớn: Mở rộng không gian, kiến tạo cực tăng trưởng mới

Từ những vùng cao nguyên, miền núi từng bị chia cắt bởi địa giới hành chính đến các đô thị, cảng biển, vùng ven biển và những đảo tiền tiêu, cuộc sắp xếp, hợp nhất các tỉnh, thành phố đang mở ra không gian phát triển rộng lớn, liên thông và giàu tiềm năng hơn. Khi “Rừng - Núi - Cao nguyên - Biển” hay “Hậu phương - Cảng biển - Logistics” không còn bị bó hẹp bởi ranh giới cũ, các lợi thế riêng lẻ sẽ có điều kiện được kết nối, bổ trợ và hình thành những chuỗi giá trị kinh tế biển quy mô lớn.

Bài 2. Lãng phí “kho báu điện gió ngoài khơi”: Bỏ ngỏ cơ hội, chậm bước ra biển lớn

Tiếp tục đi sâu vào tìm hiểu thực tế tại 21 tỉnh, thành phố ven biển trên cả nước, phóng viên Báo Điện tử VietnamPlus nhận thấy hành trình vươn ra biển tại các địa phương đang gặp nhiều điểm nghẽn, không chỉ khiến nuôi biển công nghiệp “mắc cạn,” mà còn gây lãng phí “kho báu” năng lượng gió ngoài khơi được đánh giá thuộc nhóm lớn nhất thế giới.

Bài 1. Nuôi biển “mắc cạn bởi mê cung thủ tục”: Tư duy cũ làm nghẽn cơ hội phát triển

Từ chủ trương lớn của Đảng đến chiến lược phát triển kinh tế biển đều xác định nuôi biển (cách gọi tắt của nuôi trồng thủy sản trên biển) theo mô hình công nghệ cao là một trong những động lực tăng trưởng mới, góp phần bảo đảm an ninh lương thực, tạo sinh kế bền vững và hiện thực hóa mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh. Thế nhưng, phía sau những kỳ vọng ấy, nhiều doanh nghiệp, người dân vẫn đang “mắc cạn” ngay trên hành trình bước ra biển lớn.

Phá rào cản, khơi nguồn lực: Việt Nam quyết liệt hành động xây dựng quốc gia biển mạnh

Việt Nam sở hữu một không gian phát triển đặc biệt rộng lớn, giàu tiềm năng. Nhưng để biến những lợi thế “khổng lồ” ấy thành động lực tăng trưởng, đất nước cần một tư duy đủ lớn, một thể chế đủ mở và một năng lực quản trị đủ hiện đại. Đó cũng là câu hỏi xuyên suốt trong “hành trình thực tế” của nhóm phóng viên Báo Điện tử VietnamPlus khi “đi tìm lời giải” cho khát vọng xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh.

Gỡ vướng cho điện gió ngoài khơi

Là nguồn tài nguyên nội tại của mỗi quốc gia và không phụ thuộc vào các tuyến vận tải quốc tế hay nguồn cung nhập khẩu, việc phát triển điện gió ngoài khơi sẽ không chỉ giúp Việt Nam tăng tính tự chủ về an ninh năng lượng mà còn thúc đẩy quá trình chuyển dịch năng lượng, hiện thực hoá các mục tiêu của Nghị quyết số 70-NQ/TW ngày 20/8/2025 của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.

Nghị quyết số 20-NQ/TW: Biến không gian mới thành động lực tăng trưởng lâu dài

Nghị quyết số 20-NQ/TW mở ra tầm nhìn chiến lược đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh với mục tiêu các tỉnh thành ven biển đóng góp trên 70% GDP cả nước đến năm 2030. Trước yêu cầu đô thị hóa nhanh đòi hỏi phải tìm kiếm những không gian phát triển mới, Luật Phát triển đô thị 2026 được thông qua với cơ chế cho các dự án lấn biển - được kỳ vọng sẽ mở rộng không gian phát triển, kiến tạo các cực tăng trưởng mới và biến tiềm năng kinh tế biển thành động lực bứt phá lâu dài.