![]() |
| Xưởng sản xuất của Công ty Cơ khí Động lực Toàn Cầu, doanh nghiệp có vốn đầu tư FDI tại Khu công nghiệp Giang Điền, Đồng Nai. (Ảnh: Hồng Đạt/TTXVN) |
Trong bối cảnh các tiêu chuẩn xanh và yêu cầu giảm phát thải đang định hình lại chuỗi cung ứng toàn cầu, TP. Hồ Chí Minh đứng trước yêu cầu chuyển đổi mô hình phát triển công nghiệp theo hướng bền vững.
TTXVN thực hiện chùm 2 bài viết với chủ đề Chuyển đổi khu công nghiệp thời Net Zero, phân tích về quá trình chuyển đổi các khu công nghiệp trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh; trong đó, cùng với tìm kiếm nguồn lực cho chuyển đổi xanh, quá trình này còn kiến tạo hệ sinh thái tài chính để biến mục tiêu Net Zero thành các dự án có thể đo lường, tài trợ và triển khai trong thực tế.
Bài 1: Khi lợi thế cạnh tranh không còn là đất rẻ
Nếu trước đây quỹ đất, lao động và hạ tầng là những lợi thế quyết định trong thu hút đầu tư, thì nay năng lượng sạch, dữ liệu phát thải và khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn xanh đang trở thành "tấm hộ chiếu" mới của khu công nghiệp. Sự thay đổi trong quy định thương mại và đầu tư toàn cầu, dưới tác động của Cơ chế Điều chỉnh Biên giới Carbon (CBAM - của Liên minh châu Âu), tiêu chuẩn về môi trường, xã hội và quản trị (ESG) và cam kết phát thải ròng bằng "0", đang buộc các khu công nghiệp TP. Hồ Chí Minh phải tái định hình lợi thế cạnh tranh, chuyển từ mô hình phát triển dựa vào chi phí thấp sang hệ sinh thái công nghiệp xanh và phát thải thấp.
* “Những quy định” mới
Trong nhiều năm, sức hấp dẫn của các khu công nghiệp Việt Nam chủ yếu đến từ quỹ đất dồi dào, chi phí lao động cạnh tranh và hạ tầng ngày càng hoàn thiện. Những lợi thế này đã giúp Việt Nam trở thành điểm đến sản xuất quan trọng của khu vực, thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) liên tục tăng trưởng.
Tuy nhiên, theo Viện Nghiên cứu phát triển TP. Hồ Chí Minh (HIDS), khi kinh tế toàn cầu chuyển sang mô hình tăng trưởng xanh, các tiêu chí về môi trường và phát thải carbon đang dần thay thế những lợi thế truyền thống trong quyết định lựa chọn địa điểm đầu tư của các tập đoàn đa quốc gia.
Ông Phạm Bình An, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển TP. Hồ Chí Minh cho rằng, sự thay đổi này không còn là xu hướng tương lai mà đã hiện hữu khi CBAM đi vào vận hành và các thị trường xuất khẩu lớn ngày càng siết chặt yêu cầu về phát thải, năng lượng sạch và tiêu chuẩn ESG. Doanh nghiệp muốn duy trì vị trí trong chuỗi cung ứng toàn cầu không chỉ cạnh tranh bằng giá thành hay năng suất, mà còn phải chứng minh được dấu chân carbon của sản phẩm, nguồn gốc năng lượng và tính minh bạch của dữ liệu phát thải.
Theo ông An, nếu trước đây bài toán đặt ra là mở rộng thêm khu công nghiệp thì nay câu hỏi đã khác: khu công nghiệp đó có đáp ứng tiêu chuẩn carbon của thị trường xuất khẩu hay không, có đủ nguồn năng lượng sạch và hệ thống quản trị môi trường minh bạch hay không. Đây mới là những tiêu chí quyết định năng lực cạnh tranh của một điểm đến đầu tư trong giai đoạn hiện nay.
Áp lực chuyển đổi càng lớn khi các quy định về carbon ngày càng được mở rộng, trong khi dòng vốn quốc tế cũng dịch chuyển mạnh sang các dự án phát triển bền vững. Điều đó đặt ra yêu cầu TP. Hồ Chí Minh không chỉ duy trì vai trò đầu tàu công nghiệp mà còn phải chuyển đổi mô hình phát triển theo hướng xanh, phát thải thấp để thực hiện cam kết phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050.
Ở góc nhìn quốc tế, ông Phat Pumchawsaun, Trưởng bộ phận Đông Nam Á của Trung tâm Climateworks (Đại học Monash, Australia), nhận định nhu cầu đầu tư vào hạ tầng, xây dựng, sản xuất và năng lượng của Việt Nam sẽ tiếp tục tăng mạnh cùng mục tiêu tăng trưởng kinh tế. Đây cũng là cơ hội để Việt Nam xây dựng ngay từ đầu một nền công nghiệp có sức cạnh tranh cao hơn và phát thải thấp hơn. "Cuộc cạnh tranh thu hút đầu tư đang chuyển từ ưu đãi truyền thống sang năng lực kiến tạo hệ sinh thái công nghiệp xanh, nơi doanh nghiệp có thể tiếp cận năng lượng sạch, công nghệ phát thải thấp và các cơ chế hỗ trợ chuyển đổi.
Cùng quan điểm, ông Đinh Hồng Kỳ, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Xanh TP. Hồ Chí Minh cho rằng, các chuỗi cung ứng toàn cầu đang tái cấu trúc theo mục tiêu phát thải ròng bằng "0", khiến những rào cản xanh như CBAM hay các tiêu chuẩn môi trường mới trở thành sức ép ngày càng lớn đối với doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam.
Tuy nhiên, khoảng 90% doanh nghiệp trong nước vẫn chưa xây dựng được chiến lược chuyển đổi xanh rõ ràng. "Thách thức không chỉ là vốn hay công nghệ mà còn là dữ liệu phát thải, nguồn nhân lực và khả năng tích hợp các tiêu chuẩn ESG vào hoạt động sản xuất. Chuyển đổi xanh không còn là câu chuyện của từng doanh nghiệp mà là yêu cầu của cả hệ sinh thái sản xuất, từ khu công nghiệp, năng lượng đến logistics", ông Kỳ nhấn mạnh.
Có thể thấy, khi những quy định thương mại và đầu tư toàn cầu thay đổi, lợi thế cạnh tranh của khu công nghiệp cũng không còn được quyết định bởi giá thuê đất hay chi phí lao động. Năng lực cung cấp hạ tầng xanh, kiểm soát phát thải và đáp ứng các tiêu chuẩn phát triển bền vững đang trở thành yếu tố then chốt. Với TP. Hồ Chí Minh, đây không chỉ là yêu cầu thích ứng mà còn là cơ hội để hình thành lợi thế cạnh tranh mới trong giai đoạn phát triển công nghiệp phát thải thấp.
* Định vị lợi thế
Theo Thạc sỹ Trần Văn Bích, Viện Nghiên cứu phát triển TP. Hồ Chí Minh, sau hợp nhất với Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu, thành phố không chỉ mở rộng không gian phát triển mà còn tạo cơ hội hình thành hệ sinh thái công nghiệp quy mô lớn, kết nối từ sản xuất, logistics đến cảng biển và năng lượng. Thành phố hội tụ ba trụ cột quan trọng gồm công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ và hệ thống cảng biển - năng lượng, tạo nên chuỗi giá trị tương đối hoàn chỉnh mà ít trung tâm công nghiệp trong khu vực có được.
Tuy nhiên, khi các tiêu chuẩn xanh trở thành "giấy thông hành" của thương mại toàn cầu, lợi thế cạnh tranh của khu công nghiệp được định nghĩa lại, việc mở rộng không gian công nghiệp mới chỉ là điều kiện cần. “Điều kiện đủ là chuyển đổi sang mô hình phát triển 'xanh - công nghệ cao - giá trị gia tăng lớn, từng bước giảm các ngành thâm dụng năng lượng và phát thải cao, đồng thời ưu tiên bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học, vật liệu mới và công nghiệp hỗ trợ công nghệ cao”, ông Bích nhấn mạnh.
Cùng với cơ cấu ngành nghề, các khu công nghiệp hiện hữu cũng cần được chuyển đổi theo mô hình sinh thái và thông minh. Khu công nghiệp thế hệ mới phải trở thành hệ sinh thái dùng chung hạ tầng kỹ thuật, năng lượng và dịch vụ môi trường, cho phép doanh nghiệp chia sẻ hệ thống xử lý nước thải, tái sử dụng tài nguyên, khai thác năng lượng tái tạo và quản lý phát thải bằng công nghệ số.
Từ thực tiễn tại doanh nghiệp, ông Lê Thanh Toàn, Phó trưởng phòng Phát triển & Quản lý công nghiệp, Công ty cổ phần Cao su Phước Hòa (PHR - VRG) cho rằng, phát triển hệ sinh thái năng lượng tái tạo là điều kiện quan trọng để nâng cao sức cạnh tranh của khu công nghiệp xanh; trong đó, nhấn mạnh mô hình tích hợp "5 trong 1" gồm điện mặt trời, hệ thống lưu trữ năng lượng (BESS), lưới điện thông minh, hệ thống quản lý năng lượng và cơ chế mua bán điện trực tiếp (DPPA).
"Mô hình này không chỉ bổ sung nguồn điện sạch mà còn giúp doanh nghiệp đáp ứng các tiêu chuẩn như ESG, RE100 và CBAM - những điều kiện ngày càng quan trọng để tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu", ông Toàn cho biết.
Ở góc độ cơ quan quản lý nhà nước, ông Bùi Minh Trí, Trưởng ban Ban Quản lý các khu chế xuất và công nghiệp TP. Hồ Chí Minh (Hepza) cũng nhìn nhận, lợi thế cạnh tranh của khu công nghiệp trong giai đoạn mới sẽ không còn được đo bằng diện tích đất hay số lượng dự án, mà bằng chất lượng của hệ sinh thái phát triển. Khu công nghiệp có khả năng cung cấp năng lượng sạch, quản trị phát thải minh bạch, chia sẻ hạ tầng môi trường và đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế sẽ có nhiều cơ hội thu hút dòng vốn FDI chất lượng cao hơn.
“Từ thực tiễn, thành phố cũng đã xác định phát triển khu công nghiệp dựa trên việc tận dụng tối đa lợi thế tự nhiên và xã hội của từng khu vực. Trong đó trọng tâm chuyển đổi xanh là khuyến khích doanh nghiệp đầu tư công nghệ sạch, thiết bị tiết kiệm năng lượng, sử dụng năng lượng tái tạo, áp dụng sản xuất sạch hơn và kinh tế tuần hoàn nhằm giảm phát thải khí nhà kính, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên và đáp ứng các tiêu chuẩn về môi trường, xã hội và quản trị (ESG)….”, ông Trí chia sẻ.
Việc tái định hình lợi thế cạnh tranh Khu công nghiệp cũng đồng nghĩa chuyển từ phát triển riêng lẻ sang xây dựng hệ sinh thái công nghiệp xanh trên quy mô toàn vùng; phát huy thế mạnh công nghệ cao của TP. Hồ Chí Minh; công nghiệp chế biến - chế tạo của Bình Dương và cảng biển, logistics, năng lượng của Bà Rịa - Vũng Tàu. Tuy nhiên, để hệ sinh thái đó hình thành không chỉ cần quy hoạch, công nghệ hay cơ chế chính sách mà còn đòi hỏi nguồn lực tài chính rất lớn.
Bài toán đặt ra là làm thế nào để huy động vốn cho hạ tầng xanh, năng lượng sạch và chuyển đổi công nghiệp theo cơ chế thị trường. Đây cũng là nội dung TP. Hồ Chí Minh đang từng bước triển khai nhằm biến mục tiêu Net Zero thành các dự án có thể tài trợ, vận hành và tạo sức cạnh tranh mới cho nền công nghiệp trong giai đoạn tới./.
Bài cuối: Vai trò chủ đạo của dòng tài chính xanh

