Chuyển hóa tài sản công thành động lực tăng trưởng
Thay vì bị bỏ hoang sau khi hoàn thành "sứ mệnh" hành chính, các công trình nhanh chóng bước vào một vòng đời mới, phục vụ nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân.
Mô hình chăm sóc sức khỏe người cao tuổi đặt tại trụ sở UBND phường Tân Thiện (cũ). Ảnh: Đậu Tất Thành – TTXVN

Từng là trụ sở Hội đồng nhân dân của một xã trước khi sắp xếp đơn vị hành chính, khu nhà với khuôn viên gần 5.000 m² tại xã Văn Giang (tỉnh Hưng Yên) nay đang được cải tạo thành Trạm Y tế xã. Thay vì bị bỏ hoang sau khi hoàn thành "sứ mệnh" hành chính, công trình nhanh chóng bước vào một vòng đời mới, phục vụ nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân.

Theo lãnh đạo xã Văn Giang, địa phương đang đẩy nhanh việc cải tạo để đưa công trình vào sử dụng trước quý IV/2026. Việc tận dụng cơ sở vật chất sẵn có không chỉ đáp ứng nhu cầu y tế cơ sở mà còn giúp tiết kiệm đáng kể ngân sách đầu tư xây dựng mới.

Tại Ninh Bình, trụ sở Sở Nội vụ của tỉnh Nam Định cũ cũng đang được cải tạo thành trường mầm non.Những câu chuyện trên phản ánh sự chuyển biến trong cách xử lý tài sản công sau sắp xếp bộ máy và đơn vị hành chính. Nếu trước đây trọng tâm là rà soát, phân loại và xử lý hàng nghìn cơ sở nhà, đất dôi dư nhằm tránh thất thoát, lãng phí, thì nay yêu cầu đặt ra là khai thác hiệu quả từng tài sản, đưa nguồn lực đang "nằm yên" trở lại phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.

Đây cũng là sự thay đổi trong tư duy quản lý tài sản công. Giá trị của một trụ sở hay khu đất không chỉ được đo bằng số tiền thu từ đấu giá hoặc cho thuê, mà còn ở khả năng tạo ra những giá trị mới. Một công trình được chuyển thành trường học sẽ giảm chi đầu tư xây dựng; một trụ sở cải tạo thành cơ sở y tế giúp nâng cao chất lượng dịch vụ công; còn một khu đất được khai thác đúng quy hoạch có thể mở ra cơ hội thu hút đầu tư, phát triển thương mại, dịch vụ và tạo thêm việc làm.Nói cách khác, xử lý tài sản công không còn là bài toán quản lý đơn thuần mà trở thành bài toán phân bổ và sử dụng nguồn lực cho phát triển.

Thực tế cho thấy, mỗi cơ sở nhà, đất dôi dư có đặc điểm khác nhau về vị trí, quy mô, hiện trạng và nhu cầu sử dụng vì vậy, không có một mô hình xử lý chung cho tất cả.

Tại Quảng Ninh, địa phương không đặt mục tiêu tối đa hóa nguồn thu từ cho thuê nhà, đất công mà ưu tiên đưa tài sản vào khai thác hiệu quả để tạo ra các hoạt động kinh tế, từ đó tăng nguồn thu bền vững cho ngân sách. Theo bà Mai Lê Hoa, Phó Giám đốc Sở Tài chính Quảng Ninh, trước khi quyết định phương án xử lý, từng cơ sở đều được rà soát kỹ về hiện trạng, quy hoạch và nhu cầu sử dụng. Những công trình còn phù hợp được điều chuyển cho các đơn vị thiếu trụ sở; chỉ những tài sản không còn nhu cầu sử dụng cho mục đích công mới được xem xét cho thuê, đấu giá hoặc chuyển đổi công năng.

Quá trình xử lý cũng được lãnh đạo tỉnh theo dõi thường xuyên. Các trường hợp vướng mắc được các sở, ngành và chính quyền địa phương trực tiếp kiểm tra hiện trạng để thống nhất phương án ngay tại cơ sở, qua đó rút ngắn thời gian xử lý và hạn chế tình trạng công trình xuống cấp vì bỏ trống.

Trong khi đó, Ninh Bình lựa chọn phương án khai thác linh hoạt theo từng nhóm tài sản. Những khu đất có lợi thế và phù hợp quy hoạch được nghiên cứu đấu giá hoặc cho thuê; các cơ sở còn đáp ứng nhu cầu sử dụng được điều chuyển làm trụ sở, trường học hoặc cơ sở y tế; một số khu đất khác được quy hoạch thành công viên, bãi đỗ xe và không gian sinh hoạt cộng đồng.Điểm chung trong cách làm của các địa phương là hướng tới tối ưu hóa giá trị sử dụng thay vì chỉ tối đa hóa giá trị tài chính. Một công viên có thể không mang lại nguồn thu trực tiếp nhưng góp phần nâng cao chất lượng đô thị; ngược lại, một khu đất có lợi thế thương mại nếu tiếp tục sử dụng không hiệu quả sẽ làm mất cơ hội thu hút đầu tư và phát triển dịch vụ.

Ông Nguyễn Tân Thịnh, Cục trưởng Cục Quản lý công sản (Bộ Tài chính), cho rằng mỗi cơ sở nhà, đất cần được xem xét trên cơ sở hiệu quả tổng thể mang lại cho Nhà nước và xã hội. Không phải mọi tài sản đều nên đấu giá để tăng thu ngân sách, cũng không phải tất cả đều tiếp tục sử dụng cho mục đích công. Điều quan trọng là lựa chọn phương án tạo ra giá trị cao nhất, phù hợp quy hoạch và nhu cầu thực tế.

Thực tế cho thấy, cùng một cơ chế chính sách nhưng hiệu quả khai thác tài sản công giữa các địa phương rất khác nhau. Nơi nào chủ động rà soát, quyết liệt xử lý và lựa chọn đúng phương án sẽ sớm đưa tài sản trở lại phục vụ phát triển. Ngược lại, nếu chậm trễ hoặc chỉ dừng ở việc hoàn thiện thủ tục, nhiều cơ sở sẽ tiếp tục xuống cấp, làm tăng chi phí quản lý và bỏ lỡ cơ hội phát triển.

Tại Phiên họp thứ 30 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu phải hoàn thành xử lý dứt điểm các công trình, dự án tồn đọng, các cơ sở nhà, đất dư dôi sau sắp xếp; kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm tập thể, cá nhân không quyết liệt để tồn đọng kéo dài. Đồng thời, tổng kiểm kê số hóa, rà soát, đánh giá các nguồn lực của đất nước, trả lời rõ các câu hỏi: nguồn lực nào đang tồn đọng, nguồn lực nào đang phân bổ sai, nguồn lực nào chưa được định giá đúng, nguồn lực nào phải kiến tạo mới và ai sẽ phải chịu trách nhiệm phải tháo gỡ trong thời hạn bao lâu, bằng công cụ gì, kết quả ra sao?

Kết quả của cuộc cải cách bộ máy vì thế không chỉ được đo bằng số đầu mối được tinh gọn hay số đơn vị hành chính được sắp xếp lại, mà còn ở khả năng chuyển hóa những tài sản từng phục vụ hoạt động hành chính thành nguồn lực mới cho phát triển. Khi mỗi trụ sở, mỗi khu đất công được khai thác đúng quy hoạch và đúng nhu cầu, tài sản công sẽ không còn là nguồn lực "đóng băng" mà trở thành vốn phát triển, góp phần mở rộng dư địa tăng trưởng, nâng cao hiệu quả đầu tư công và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội bền vững./.

Tin liên quan

Dữ liệu mở đường cho quản trị đất đai hiện đại

Tròn một năm vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp sau sắp xếp đơn vị hành chính, lĩnh vực đất đai tại TP. Hồ Chí Minh ghi nhận nhiều chuyển biến tích cực. Cùng với việc phân cấp mạnh cho cấp cơ sở, thành phố cũng đẩy nhanh xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai thống nhất, từng bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ giấy sang quản trị bằng dữ liệu số. Những thay đổi này không chỉ giúp rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục hành chính mà còn tạo nền tảng cho quá trình chuyển đổi số, hướng tới nền hành chính hiện đại, minh bạch và phục vụ người dân, doanh nghiệp ngày càng hiệu quả hơn.

Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm: Thông tin về phạm vi, quy mô, ranh giới lập quy hoạch

Quyết định số 2512/QĐ-UBND ngày 13/5/2026, UBND TP Hà Nội phê duyệt Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm. Đây là đồ án chiến lược có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với định hướng phát triển lâu dài của Thủ đô. Theo Quyết định vừa được phê duyệt, Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội được xây dựng với tầm nhìn dài hạn 100 năm, chia thành các giai đoạn phát triển đến năm 2035, 2045, 2065 và 2085. Theo đó, phạm vi quy hoạch gồm toàn bộ địa giới hành chính Thủ đô Hà Nội, với 126 đơn vị hành chính cấp xã (51 phường, 75 xã) và quy mô lập quy hoạch là ~3.359,84 km2 (335.984 ha).

Tin cùng chuyên mục

Điện mặt trời mái nhà: Bứt tốc nhờ lực đẩy chính sách

Việc hoàn thiện hàng loạt cơ chế, chính sách mới đang tạo động lực mạnh mẽ cho phát triển điện mặt trời mái nhà. Không chỉ mở rộng cơ hội đầu tư cho người dân và doanh nghiệp, các chính sách này còn góp phần thúc đẩy phát triển nguồn điện phân tán, nâng cao an ninh năng lượng và hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng xanh.

Kết nối trí tuệ Việt - Bài cuối: Hình thành hệ sinh thái đủ mạnh để trí tuệ Việt bứt phá

Hiện nay, việc thu hút được người tài mới chỉ là bước khởi đầu để trí tuệ Việt Nam phát triển và vươn xa. Điều quan trọng hơn là xây dựng một hệ sinh thái đủ mạnh để các nhà khoa học, chuyên gia và doanh nhân Việt Nam ở khắp năm châu có môi trường nghiên cứu, sáng tạo và cống hiến lâu dài cho sự phát triển của đất nước.

Từng bước chuyển mạnh từ tư duy quản lý văn hóa sang tư duy kiến tạo

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu tạo chuyển biến mạnh từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo phát triển văn hóa; đẩy mạnh xây dựng chủ quyền văn hóa trên không gian số, phát triển công nghiệp văn hóa và phát huy văn hóa trở thành nguồn lực nội sinh, động lực quan trọng cho phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

Kết nối trí tuệ Việt - Bài 2: Tháo gỡ điểm nghẽn để chất xám hội tụ

Nếu bài toán thu hút trí thức Việt Nam ở nước ngoài trước đây chủ yếu là "đưa người trở về", thì trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập sâu rộng, yêu cầu đặt ra hiện nay là xây dựng cơ chế kết nối linh hoạt để chất xám, công nghệ và mạng lưới quốc tế có thể hội tụ, đồng hành cùng quá trình phát triển đất nước. Khi những "điểm nghẽn" về thể chế từng bước được tháo gỡ, dòng chảy tri thức sẽ trở thành động lực mới cho hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia.

Kết nối trí tuệ Việt - Bài 1: Quy tụ chất xám để bứt phá công nghệ

Trong bối cảnh khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực phát triển đất nước theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW, nguồn lực trí tuệ của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài đang mở ra những cơ hội mới cho Việt Nam. Không chỉ mang theo tri thức, công nghệ và kinh nghiệm quốc tế, đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học, doanh nhân Việt toàn cầu còn góp phần kết nối các nguồn lực, hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, tạo nền tảng để Việt Nam bứt phá trong kỷ nguyên số.

Đừng để mỗi mùa thi lại đi tìm "con sâu"

Xử lý nghiêm người vi phạm là yêu cầu bắt buộc. Nhưng xử lý chỉ là điểm kết thúc của một vụ việc, hoàn thiện hệ thống mới là điểm khởi đầu để ngăn ngừa những vụ việc tiếp theo.

Kỹ năng số lan tỏa vùng miền núi Xứ Lạng

Chuyển đổi số đang từng bước thay đổi cách người dân vùng miền núi Lạng Sơn tiếp cận các dịch vụ công. Việc triển khai các mô hình Trạm số hóa, KIOSK Dịch vụ công AI cùng sự hỗ trợ của chính quyền cơ sở góp phần lan tỏa kỹ năng số trong cộng đồng, nâng cao hiệu quả giải quyết thủ tục hành chính và xây dựng chính quyền số.