Công nghệ cao "tiếp sức" ngành tôm
Từ những ao nuôi quảng canh phụ thuộc nhiều vào thời tiết, ngày càng nhiều hộ dân ven biển Vĩnh Long đã chuyển sang nuôi tôm công nghệ cao với hệ thống ao lót bạt, thiết bị giám sát môi trường tự động và quy trình nuôi hiện đại. Sự chuyển đổi này không chỉ giúp nâng cao năng suất, tăng thu nhập cho người dân mà còn góp phần thúc đẩy tăng trưởng ngành thủy sản địa phương. Tuy nhiên, trong bối cảnh dịch bệnh trên tôm diễn biến phức tạp, thời tiết cực đoan và giá cả thị trường biến động, việc phát triển nuôi tôm công nghệ cao gắn với quản lý môi trường và phòng ngừa dịch bệnh đang trở thành yêu cầu cấp thiết để hướng tới phát triển bền vững.
Ao nuôi tôm thẻ chân trắng công nghệ cao của gia đình ông Ngô Văn Thới, ấp Tân Thành, xã Long Thành được đầu tư đồng bộ hệ thống kỹ thuật. Ảnh: Thanh Hòa - TTXVN


*Đưa công nghệ số vào ao tôm

Ngồi tại nhà nhưng vẫn có thể theo dõi hoạt động của các ao nuôi thông qua điện thoại thông minh, ông Ngô Văn Thới, ấp Tân Thành, xã Long Thành cho biết, hệ thống cảm biến được lắp đặt tại các ao nuôi liên tục cập nhật các chỉ số môi trường như nhiệt độ, độ mặn, độ pH và hàm lượng oxy hòa tan trong nước. Khi các thông số vượt ngưỡng cho phép, hệ thống sẽ phát tín hiệu cảnh báo để người nuôi kịp thời xử lý.

Nếu như trước đây gia đình ông chủ yếu nuôi tôm theo hình thức quảng canh cải tiến, mật độ thấp và phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên thì khoảng 10 năm trở lại đây đã từng bước chuyển sang nuôi công nghiệp ao đất và hiện nay là mô hình ao lót bạt công nghệ cao.

Trên diện tích khoảng 3 ha đất sản xuất, gia đình ông Thới đầu tư 4 ao nuôi với tổng diện tích mặt nước khoảng 5.000 m². Toàn bộ ao được lót bạt, lắp đặt hệ thống quạt nước, sục khí, oxy đáy cùng các thiết bị theo dõi môi trường tự động. Mỗi ao thả hơn 200.000 con giống tôm thẻ chân trắng, với mật độ khoảng 300 con/m², cao gấp nhiều lần so với hình thức nuôi truyền thống trước đây.

Ông Thới cho biết, khi còn nuôi ao đất truyền thống, mật độ nuôi cao nhất chỉ khoảng 40 - 50 con/m² nên sản lượng không cao. Việc đầu tư đồng bộ hệ thống kỹ thuật đã giúp mật độ nuôi tăng gấp nhiều lần, đồng thời kiểm soát tốt các yếu tố môi trường, nâng cao tỷ lệ sống của tôm và tăng năng suất.

“Nuôi công nghệ cao thì vốn đầu tư lớn hơn nhưng đổi lại mình quản lý được môi trường ao nuôi. Trước đây chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, còn bây giờ nhiều chỉ số được theo dõi trên điện thoại. Khi có biến động thì mình biết sớm để xử lý, hạn chế rủi ro”, ông Thới chia sẻ.

Theo ông Thới, việc ứng dụng công nghệ giúp kiểm soát tốt môi trường nước, nâng cao tỷ lệ sống của tôm và tăng năng suất. Một năm ông Thới sản xuất 3 vụ, mỗi vụ thuận lợi có thể thu hoạch khoảng 7 tấn tôm thương phẩm/ao. Có thời điểm giá bán tôm thẻ chân trắng thương phẩm đạt gần 200.000 đồng/kg, doanh thu mỗi ao đạt hơn 1 tỷ đồng, lợi nhuận khoảng 40% doanh thu.

Hiệu quả kinh tế từ mô hình nuôi công nghệ cao đã thúc đẩy nhiều hộ dân ven biển mạnh dạn chuyển đổi phương thức sản xuất. Các mô hình nuôi nhiều giai đoạn, sử dụng cảm biến môi trường, máy cho ăn tự động, hệ thống oxy đáy và quản lý từ xa đang ngày càng phổ biến tại các vùng nuôi trọng điểm.

Theo ông Châu Hữu Trị, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông (Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Vĩnh Long), nhiều mô hình nuôi tôm ứng dụng công nghệ cao đang cho thấy hiệu quả rõ rệt. Đáng chú ý là mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng hai giai đoạn ứng dụng công nghệ 4.0 với hệ thống cảm biến theo dõi liên tục các chỉ số môi trường như oxy hòa tan, nhiệt độ, độ mặn và pH.

Dữ liệu được truyền trực tiếp đến điện thoại thông minh của người nuôi, giúp quản lý ao nuôi hiệu quả hơn, giảm chi phí nhân công, hạn chế rủi ro và nâng cao năng suất. Đây cũng là nền tảng quan trọng để tỉnh Vĩnh Long xây dựng các vùng nuôi hiện đại, đáp ứng yêu cầu truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn chất lượng ngày càng cao của thị trường.

Sự phát triển của các mô hình nuôi tôm ứng dụng công nghệ cao đang góp phần quan trọng vào tăng trưởng của ngành thủy sản tỉnh. Theo ngành nông nghiệp, từ đầu năm đến nay, tổng sản lượng thủy sản đạt trên 477.000 tấn, tăng 5,4% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, nuôi tôm nước lợ tiếp tục giữ vai trò chủ lực với diện tích thả nuôi đạt trên 90% kế hoạch năm, sản lượng thu hoạch đạt hơn 50% kế hoạch. Đáng chú ý, diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh mật độ cao tiếp tục được mở rộng thêm 566 ha, nâng tổng diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng ứng dụng công nghệ cao đạt gần 6.000 ha, qua đó góp phần nâng cao năng suất và hiệu quả sản xuất.

*Vượt thách thức để phát triển bền vững

Ao nuôi tôm thẻ chân trắng công nghệ cao của gia đình ông Ngô Văn Thới, ấp Tân Thành, xã Long Thành được đầu tư đồng bộ hệ thống kỹ thuật. Ảnh: Thanh Hòa - TTXVN

Bên cạnh những kết quả tích cực, người nuôi tôm hiện vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn, đặc biệt là dịch bệnh và những biến động ngày càng lớn của môi trường nuôi.

Theo ông Ngô Văn Thới, những năm đầu chuyển sang nuôi công nghệ cao, điều kiện môi trường còn tương đối ổn định nên việc sản xuất thuận lợi hơn. Tuy nhiên, vài năm trở lại đây, thời tiết diễn biến thất thường, nắng nóng kéo dài xen kẽ mưa trái mùa khiến môi trường ao nuôi biến động mạnh, tạo điều kiện cho dịch bệnh phát sinh.

Năm 2025, gia đình ông bị thiệt hại nặng 2 vụ nuôi liên tiếp trên 3 ao do bệnh vi bào tử trùng (EHP) khi tôm nuôi mới từ 45 - 75 ngày tuổi. Tổng chi phí thiệt hại từ con giống, thức ăn, điện vận hành và xử lý môi trường lên đến khoảng 600 triệu đồng.

Ở vụ nuôi hiện tại, giá tôm thương phẩm chỉ còn khoảng 120.000 đồng/kg, giảm mạnh so với giai đoạn thuận lợi trước đây. Bên cạnh đó, do ảnh hưởng của bệnh EHP ngay từ giai đoạn đầu nên sản lượng thu hoạch giảm đáng kể.

“Bây giờ người nuôi tôm vừa lo dịch bệnh vừa lo giá cả. Nghề nuôi tôm gặp khó, không chỉ người nuôi bị ảnh hưởng mà các hoạt động dịch vụ, mua bán ở địa phương cũng thiệt theo”, ông Thới cho biết.

Không chỉ riêng hộ ông Thới, dịch bệnh trên thủy sản vẫn là thách thức lớn đối với ngành nuôi trồng thủy sản địa phương. Theo thống kê của Chi cục Thủy sản, Kiểm ngư và Biển đảo, từ đầu năm 2026 đến nay toàn tỉnh ghi nhận gần 530 ha thủy sản bị thiệt hại; trong đó, tôm sú thiệt hại hơn 234 ha, tôm thẻ chân trắng gần 296 ha.

Các bệnh thường gặp gồm vi bào tử trùng (EHP), đốm trắng (WSSV), hoại tử gan tụy cấp (AHPND), bệnh phân trắng và các bệnh liên quan đến môi trường nuôi.

Bà Lê Thị Hạnh Chuyên, Phó Chi cục trưởng Chi cục Thủy sản, Kiểm ngư và Biển đảo cho biết, kết quả giám sát tại các vùng nuôi cho thấy nhiều tác nhân gây bệnh nguy hiểm vẫn xuất hiện ở các khu vực nuôi tôm trọng điểm. Trong khi đó, diễn biến thời tiết cực đoan làm môi trường nước thay đổi nhanh, gây áp lực lớn cho công tác phòng, chống dịch bệnh.

Trước thực tế này, ngành thủy sản tỉnh đang tăng cường quan trắc, cảnh báo môi trường tại các vùng nuôi tập trung; đồng thời đẩy mạnh giám sát dịch bệnh, hướng dẫn người nuôi tuân thủ lịch thời vụ, sử dụng con giống có nguồn gốc rõ ràng và thực hiện tốt các biện pháp quản lý môi trường ao nuôi.

Tỉnh mở nhiều lớp tập huấn, hội thảo chuyển giao kỹ thuật nhằm giúp người dân nhận diện sớm các loại bệnh nguy hiểm trên tôm, cập nhật các giải pháp kỹ thuật mới và nâng cao khả năng ứng phó với các tình huống phát sinh trong quá trình sản xuất.

Ngoài phòng, chống dịch bệnh, việc tháo gỡ các nút thắt về vốn đầu tư và hạ tầng cũng là yêu cầu đặt ra để nuôi tôm công nghệ cao tiếp tục phát huy hiệu quả và phát triển bền vững.

Theo nhiều hộ nuôi tôm tại ấp Tân Thành, hiện nay đa số người nuôi đều có khả năng tiếp cận và vận hành các mô hình công nghệ cao. Tuy nhiên, trở ngại lớn nhất vẫn là nguồn vốn đầu tư ban đầu. Một hệ thống nuôi công nghệ cao hoàn chỉnh cần vốn đầu tư hàng tỷ đồng để xây dựng ao nuôi, lắp đặt thiết bị và hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật. Vì vậy, người dân mong muốn được các tổ chức tín dụng quan tâm hỗ trợ vốn vay với lãi suất phù hợp để có điều kiện đầu tư, nâng cấp mô hình sản xuất.

Ngoài vốn, hạ tầng điện và giao thông cũng là những yếu tố quyết định hiệu quả sản xuất. Hệ thống quạt nước, sục khí và các thiết bị vận hành liên tục đòi hỏi nguồn điện ổn định, công suất lớn. Bên cạnh đó, đường giao thông phải bảo đảm để phục vụ vận chuyển thức ăn, vật tư đầu vào và thu hoạch sản phẩm.

Ông Ngô Văn Hiệp, hộ nuôi tôm tại ấp Tân Thành, xã Long Thành cho biết, tại những khu vực có giao thông chưa thuận lợi, thương lái thường thu mua tôm thương phẩm thấp hơn 5.000 đồng/kg so với các vùng nuôi có điều kiện vận chuyển thuận tiện do phải cộng thêm chi phí vận chuyển.

“Muốn phát triển nuôi công nghệ cao thì người dân cần có vốn, có điện và có đường giao thông thuận lợi. Nếu được hỗ trợ tốt về tín dụng và hạ tầng thì sẽ có thêm nhiều hộ mạnh dạn đầu tư”, ông Hiệp nhận định.

Theo bà Lê Thị Hạnh Chuyên, ngành thủy sản tỉnh đang khuyến khích nhân rộng các mô hình nuôi tôm nhiều giai đoạn, ứng dụng công nghệ số trong giám sát môi trường, sử dụng chế phẩm sinh học và tăng cường liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị.

Trong bối cảnh thị trường ngày càng đòi hỏi cao về chất lượng sản phẩm, an toàn thực phẩm và khả năng truy xuất nguồn gốc, phát triển nuôi tôm công nghệ cao không chỉ nhằm nâng cao năng suất mà còn tạo ra sản phẩm đồng đều, đáp ứng yêu cầu của các doanh nghiệp chế biến và thị trường xuất khẩu.

Cùng đó, địa phương đang khuyến khích người nuôi tham gia các tổ hợp tác, hợp tác xã và liên kết với doanh nghiệp thu mua, chế biến nhằm ổn định đầu ra, giảm rủi ro về giá cả và xây dựng vùng nguyên liệu tập trung.

Phát triển nuôi tôm công nghệ cao gắn với quản lý môi trường, kiểm soát dịch bệnh và liên kết sản xuất là giải pháp quan trọng để nâng cao hiệu quả kinh tế, xây dựng vùng nguyên liệu ổn định và hướng tới phát triển bền vững ngành thủy sản Vĩnh Long./.


Tin liên quan

Chuyển đổi kép: Đòn bẩy công nghệ nâng tầm sản xuất Việt Nam

Trong lộ trình tái cấu trúc nền kinh tế giai đoạn 2026-2030, "chuyển đổi kép" – sự kết hợp đồng bộ giữa số hóa và xanh hóa – đang trở thành định hướng chiến lược trọng tâm. Đây không chỉ là giải pháp kỹ thuật nhằm tối ưu hóa vận hành, mà còn là yếu tố quyết định để doanh nghiệp Việt Nam xây dựng năng lực tự chủ, giữ vững vị thế trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

Tin cùng chuyên mục

Bế mạc Đại hội IX Hội Nông dân Việt Nam

Chiều 8/6, tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia, Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Nông dân Việt Nam lần thứ IX nhiệm kỳ 2026 - 2031 đã diễn ra phiên bế mạc. Đồng chí Bùi Thị Minh Hoài, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã tới dự.

Từ cải tiến nhỏ của người thợ đến mục tiêu lớn của nền kinh tế

Nguồn nhân lực chất lượng cao đang được xác định là chìa khóa quyết định giúp Việt Nam bứt phá trong giai đoạn phát triển mới. Đại hội XIV của Đảng đặt mục tiêu đến năm 2030, tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ đạt 35- 40%. Đây là nền tảng trực tiếp để nâng cao năng suất lao động - yếu tố được coi là động lực quan trọng nhất của tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn tới.

Kinh tế tư nhân trước cơ hội lớn

Chiều 8/6, Báo Thanh Niên tổ chức hội thảo “Mở khóa tăng trưởng – Động lực từ kinh tế tư nhân”, quy tụ các nhà hoạch định chính sách, chuyên gia kinh tế và cộng đồng doanh nghiệp nhằm tìm kiếm giải pháp phát huy vai trò của khu vực kinh tế tư nhân trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.

Diễn đàn Tương lai ASEAN 2026: Cơ hội thúc đẩy hợp tác khu vực

Diễn đàn Tương lai ASEAN lần thứ ba diễn ra trong hai ngày 9-10/6 tại thủ đô Hà Nội sẽ là diễn đàn quốc tế quy mô lớn, với sự tham dự của nhiều nhà lãnh đạo cấp cao ASEAN. Thủ tướng Campuchia Hun Manet sẽ tham dự diễn đàn và thảo luận các biện pháp thúc đẩy hợp tác khu vực trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực diễn biến phức tạp.

Từ xử lý vi phạm đến xây dựng văn minh bản quyền

Bản quyền: Càng xử phạt, vi phạm càng tinh vi? Làm thế nào để chuyển từ ‘chống vi phạm’ sang xây dựng ‘văn minh bản quyền’? Những giải pháp đột phá có thể áp dụng ngay trong thực tiễn sẽ được các chuyên gia hiến kế tại tọa đàm.

Nhân rộng mô hình “Xã biên giới sạch về ma túy”

Từ những kết quả tích cực tại xã biên giới Ia Mơ, lực lượng Bộ đội Biên phòng tỉnh Gia Lai đang phối hợp với các địa phương tiếp tục nhân rộng mô hình “Xã biên giới sạch về ma túy” trên toàn tuyến biên giới.