![]() |
| Công nhân sản xuất các sản phẩm dụng cụ điện cầm tay tại dự án Nhà máy Keystone Electrical Việt Nam (Khu Công nghiệp Liên Hà Thái), xã Thái Thụy, tỉnh Hưng Yên. Ảnh: Thế Duyệt/TTXVN |
Chiều ngày 2/7, tại Diễn đàn “Công nghiệp hỗ trợ trong bối cảnh tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu: Định vị chiến lược và giải pháp phát triển cho doanh nghiệp” do Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư Thành phố (ITPC) phối hợp với Hiệp hội Công nghiệp hỗ trợ Thành phố (HASI) tổ chức, các chuyên gia cho biết, công nghiệp hỗ trợ không chỉ giữ vai trò là ngành sản xuất phụ trợ, mà đã trở thành nền tảng quan trọng để nâng cao năng lực tự chủ công nghiệp. Ngành này, góp phần gia tăng tỷ lệ nội địa hóa, cải thiện năng lực cạnh tranh và giúp doanh nghiệp tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
*“Hộ chiếu” vào chuỗi cung ứng toàn cầu
Theo các chuyên gia, một nền công nghiệp muốn phát triển bền vững không thể chỉ dừng lại ở khâu gia công, lắp ráp, mà cần từng bước làm chủ linh kiện, phụ tùng, nguyên vật liệu, công nghệ, tiêu chuẩn chất lượng và hệ sinh thái nhà cung ứng. Đồng thời, chỉ khi doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu chuẩn hóa hoạt động sản xuất theo xu hướng toàn cầu thì mới có “hộ chiếu” vào chuỗi cung ứng này.
Ông Nguyễn Ngọc Đăng Khoa, Phó Giám đốc Phát triển kinh doanh, Công ty TNHH SMC Cơ khí chính xác Phú Mỹ chỉ ra rằng, bên cạnh nền tảng cơ bản như ISO 9001, ISO 14001, ISO 45001 và tiêu chuẩn trách nhiệm xã hội RBA phiên bản 8.0, doanh nghiệp còn cần chú trọng một số chứng chỉ chuyên ngành như IATF 16949 cho ngành ô tô, AS9100 cho ngành hàng không vũ trụ, hay ISO 13485 đối với thiết bị y tế. Những hệ thống chứng chỉ này, chính là điều kiện tiên quyết và khuôn khổ giúp chuẩn hóa hoạt động sản xuất, đảm bảo rằng sản phẩm dù được sản xuất ở những nhà máy khác nhau đều đạt sự đồng nhất cao về thông số kỹ thuật.
Trong khi đó, bà Lê Nguyễn Thiên Nga, Viện trưởng Viện Quản trị chính sách và chiến lược phát triển, Liên hiệp các Hội Khoa học và kỹ thuật Việt Nam khuyến nghị, ngành công nghiệp hỗ trợ Việt Nam cần chủ động liên kết toàn cầu để liên kết phát triển thị trường. Bên cạnh đó, ngành chủ động đồng kiến tạo chính sách và tư vấn chính sách dựa trên dữ liệu thực của doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ Việt Nam.
Ghi nhận trong những tháng đầu năm 2026, chuỗi cung ứng toàn cầu đang có những thay đổi sâu sắc bởi nhiều yếu tố như cạnh tranh chiến lược giữa các nền kinh tế lớn, biến động địa chính trị… Cùng với đó, các yêu cầu chuyển đổi số - xanh, tiêu chuẩn phát triển bền vững và sự dịch chuyển của dòng vốn đầu tư công nghệ cao, đã và đang định hình lại cách thức tổ chức sản xuất, phân bổ đầu tư và kết nối thương mại quốc tế.
Đối với Việt Nam, bức tranh kinh tế trong những tháng đầu năm 2026 tiếp tục có nhiều tín hiệu tích cực và tiếp tục là điểm đến có sức hấp dẫn trong quá trình tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu. Tuy nhiên, cơ cấu nhập khẩu cũng cho thấy nhu cầu rất lớn về linh kiện, bán thành phẩm, máy móc, thiết bị và phụ tùng phục vụ sản xuất.
Với bối cảnh trên, ngành công nghiệp hỗ trợ trong nước vừa có dư địa phát triển rất lớn, vừa đối mặt với yêu cầu cấp thiết phải nâng cao năng lực cung ứng, giảm phụ thuộc vào nguồn cung bên ngoài. Song song đó, doanh nghiệp Việt phải chủ động nâng cao vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu.
*Bước ngoặt thể chế nội địa hóa
Ngày 19/5/2026, Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc đã ký ban hành Quyết định số 929/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2026 - 2035. Văn kiện này, có ý nghĩa chiến lược, tạo khung chính sách quan trọng cho sự phát triển của ngành công nghiệp hỗ trợ trong giai đoạn mới.
Chương trình đặt mục tiêu đến năm 2030, tỷ lệ nội địa hóa trung bình của các ngành công nghiệp chủ lực đạt 40 - 45%, năng lực cạnh tranh công nghiệp thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu ASEAN; đến năm 2035, đa số chuyên ngành công nghiệp hỗ trợ đạt trình độ công nghệ tiên tiến, tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Đây là định hướng rất quan trọng, thể hiện quyết tâm của Chính phủ trong việc xây dựng nền công nghiệp quốc gia bền vững, tự chủ và hiện đại.
Còn về hạ tầng sản xuất công nghiệp bền vững, ông Đặng Tấn Đức, Viện trưởng Viện R&D, Tập đoàn Becamex cho hay, cạnh tranh thu hút đầu tư không còn là cạnh tranh giữa các dự án, mà là cạnh tranh giữa các hệ sinh thái phát triển. Do đó, Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (Nghị quyết 10-NQ/TW) là bước ngoặt thể chế của Việt Nam khi lần đầu tiên phát triển năng lực chuỗi cung ứng nội địa là mục tiêu trung tâm của chính sách thu hút đầu tư nước ngoài.
Nghị quyết 10-NQ/TW yêu cầu triển khai xây dựng cơ sở dữ liệu nhà cung ứng; doanh nghiệp FDI công bố nhu cầu mua sắm, tiêu chuẩn kỹ thuật và lộ trình nội địa hóa. Mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam có khoảng 10.000 doanh nghiệp Việt tham gia chuỗi cung ứng FDI; 500 – 1.000 nhà cung ứng cấp 1 người Việt trong chuỗi FDI; tỷ lệ nội địa hóa các ngành công nghiệp chủ lực là 45 – 50%;…
Ở góc độ địa phương, bà Cao Thị Phi Vân, Phó Giám đốc Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư TP. Hồ Chí Minh (ITPC) cho biết, thành phố với vai trò là trung tâm kinh tế, thương mại, khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo của cả nước, phát triển công nghiệp và công nghiệp hỗ trợ luôn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Thành phố đang hướng đến mô hình tăng trưởng dựa trên năng suất, chất lượng, công nghệ cao, chuyển đổi số và liên kết vùng.
Cụ thể, TP. Hồ Chí Minh xác định việc hình thành các chuỗi liên kết doanh nghiệp theo cụm ngành, phát triển nhà cung ứng nội địa, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa nâng cao năng lực sản xuất, mở rộng thị trường và tiếp cận tiêu chuẩn quốc tế là những nhiệm vụ cần được triển khai đồng bộ. Từ đó, doanh nghiệp thành phố từng bước làm chủ linh kiện, phụ tùng, công nghệ và tiêu chuẩn chất lượng thay vì chỉ dừng lại ở khâu gia công.Về định hướng phát triển công nghiệp – công nghiệp hỗ trợ TP. Hồ Chí Minh đến năm 2030, bà Nguyễn Minh Tâm, Trưởng phòng Quản lý công nghiệp, Sở Công Thương TP. Hồ Chí Minh nhấn mạnh, phát triển công nghiệp hỗ trợ chính là khâu đột phá để thành phố khẳng định vai trò đầu tàu công nghiệp cả nước. Cùng với đó, dự thảo Luật Công nghiệp trọng điểm ưu tiên tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ vay đầu tư công nghệ, quỹ đầu tư mạo hiểm; dự thảo Luật Đô thị đặc biệt (dự kiến trình Quốc hội cuối 2026) phân quyền triệt để, phát triển khu công nghiệp sinh thái, trung tâm dữ liệu, AI và mô hình TOD.
Trong định hướng phát triển công nghiệp chung của TP. Hồ Chí Minh cũng cho thấy, ưu tiên phát triển công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp mũi nhọn, công nghiệp hỗ trợ; ứng dụng AI, tự động hóa, robot để nâng cao năng suất. Đồng thời, chuyển đổi khu chế xuất, khu công nghiệp theo hướng xanh, sạch, tiết kiệm năng lượng; liên kết bền vững, thu hút nhà đầu tư chiến lược;…
Bà Tâm thông tin thêm, mục tiêu cụ thể công nghiệp hỗ trợ của TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2026 - 2030 là tỷ trọng ngành cơ khí chiếm 15 – 16% toàn ngành công nghiệp; tỷ lệ nội địa hóa tăng trưởng 3 – 5%/năm. Riêng mục tiêu nội địa hóa đến năm 2030 theo ngành như da giày đạt tỷ lệ nội địa hóa hơn 65%, dệt may (60%), cơ khí chế tạo (40%), điện tử (30%), ô tô (30%), công nghiệp công nghệ cao (15%),…
Để đạt được những mục tiêu trên, TP. Hồ Chí Minh cũng đặt ra các nhóm giải pháp trọng tâm: hoàn thiện cơ chế, chính sách; phát triển hạ tầng, mặt bằng; phát triển thị trường, kết nối chuỗi; hỗ trợ vốn, kích cầu đầu tư; khoa học công nghệ, chuyển đổi số; phát triển nguồn nhân lực. Bên cạnh đó, trục cột năng lực yêu cầu đối với doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ là đầu tư thiết bị gia công chính xác, tự động hóa; cấu trúc tài chính bền vững, ổn định giá thành; nâng cao năng lực thiết kế, cải tiến sản phẩm; đáp ứng các tiêu chuẩn về môi trường, an toàn, trách nhiệm xã hội,…/.

