ĐẠI HỘI XIV CỦA ĐẢNG: Cần khung chính sách dài hạn để phát triển điện hạt nhân tại Việt Nam
Trao đổi với phóng viên TTXVN tại Paris, các thành viên Ban điều hành Mạng lưới chuyên gia năng lượng hạt nhân người Việt ở nước ngoài (VietNuc) cho rằng Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Đại hội XIV) của Đảng Cộng sản Việt Nam cần đưa ra một chiến lược và cam kết dài hạn, coi điện hạt nhân là nguồn năng lượng sạch và quan trọng trong cơ cấu điện quốc gia với tầm nhìn thế kỷ. Tầm nhìn này bao trùm từ khâu chuẩn bị, xây dựng, vận hành an toàn trong 60-80 năm, cho đến khâu xử lý nhiên liệu cuối vòng đời. Chỉ khi có một khung chính sách dài hạn và ổn định như vậy, Việt Nam mới có thể huy động được nguồn lực trí tuệ của kiều bào và sự hợp tác bền vững từ các cường quốc hạt nhân trên thế giới.

Theo nhận định của ông Fatih Birol, Giám đốc Điều hành Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA), “để đạt được mục tiêu phát thải ròng bằng 0 (Net Zero) vào năm 2050, công suất điện hạt nhân toàn cầu cần phải tăng gấp đôi. Với một nhà máy điện hạt nhân, bạn chỉ cần ấn nút và hệ thống điện sẽ chạy 24/7 – đó là định nghĩa về an ninh năng lượng”. Trong khi đó, Bill Gates nhấn mạnh: “Tương lai của năng lượng nằm ở cấp độ hạ nguyên tử (subatomic). Việc giải phóng giới hạn về năng lượng nhờ hạt nhân sẽ tạo ra sự chuyển đổi mạnh mẽ không kém gì cuộc cách mạng công nghiệp với động cơ hơi nước trước đây".

An toàn hạt nhân phải được xác định là nguyên tắc tiên quyết. Cần xây dựng cơ quan quản lý an toàn hạt nhân độc lập, có thẩm quyền rõ ràng và trực tiếp báo cáo Thủ tướng Chính phủ, đồng thời hình thành văn hóa an toàn xuyên suốt trong mọi giai đoạn, từ xây dựng chính sách, thiết kế, thi công đến vận hành và tháo dỡ. Phát triển điện hạt nhân không thể chạy theo tiến độ, mà phải đặt trên nền tảng pháp lý, thể chế và năng lực quản trị an toàn vững chắc.

Bên cạnh đó, việc lựa chọn đối tác công nghệ cần được thực hiện một cách toàn diện và thận trọng, đáp ứng các tiêu chí về an toàn, công nghệ tiên tiến đã được kiểm chứng, khả năng tỷ lệ nội địa hóa và sử dụng nguồn lực trong nước cao. Đối tác phải cam kết đào tạo và chuyển giao tri thức, công nghệ trong tất cả các công đoạn của dự án, từ thiết kế, xây dựng và lắp đặt, vận hành, xử lý rác thải hạt nhân và tháo dỡ sau khi sử dụng.

Quang cảnh vị trí đặt Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 ở xã Phước Dinh (Khánh Hòa).
Ảnh: Tuấn Anh/TTXVN phát

Về đào tạo nhân lực và phát triển năng lực quốc gia, cần có chính sách và tạo điều kiện thu hút sinh viên xuất sắc tham gia các chương trình đào tạo về năng lượng hạt nhân, cam kết tuyển dụng sau khi ra trường; khuyến khích hỗ trợ nghiên cứu và phát triển năng lượng. Bên cạnh đó, xây dựng các trung tâm đào tạo nghề chất lượng cao, gắn liền với thực hành nhằm đảm bảo yêu cầu về số lượng và chất lượng nhân lực kỹ thuật viên lành nghề, chuyên nghiệp.

Mặt khác, Đảng và Nhà nước cũng cần quan tâm và chú trọng phát triển cơ sở hạ tầng, nhà ở và an sinh xã hội cho hàng nghìn công nhân, kỹ thuật viên, kỹ sư cùng gia đình họ trong thời gian xây dựng và triển khai dự án (từ 5 - 7 năm). Trong giai đoạn cao điểm của mỗi dự án xây dựng nhà máy điện hạt nhân, có thể có hơn 15.000 nhân lực làm việc. Ngoài ra, cũng cần hình thành hệ sinh thái năng lượng hạt nhân, phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ, năng lực khoa học - công nghệ.

Trên thực tế, Việt Nam hiện có đội ngũ nhân lực được đào tạo bài bản nhưng còn thiếu về số lượng và kinh nghiệm thực tiễn triển khai các chương trình hạt nhân quy mô lớn. Năng lực nghiên cứu và chuyển giao công nghệ còn phân tán, thiếu các chương trình dài hạn đủ lớn để gắn kết nghiên cứu với nhu cầu thực tế của các dự án chiến lược. Cơ chế quản trị an toàn và sử dụng chuyên gia vẫn tồn tại những rào cản thể chế, khiến việc huy động hiệu quả tri thức chất lượng cao, đặc biệt từ cộng đồng chuyên gia ở nước ngoài, chưa đạt hiệu quả như kỳ vọng. Các máy móc, thiết bị trong nhà máy điện hạt nhân có yêu cầu rất cao về vật liệu, chế tạo chính xác, và tuổi thọ dài, tính truy xuất nguồn gốc và kiểm định chất lượng nghiêm ngặt. Hiện nay, rất ít quốc gia có khả năng chế tạo các thiết bị chính của lò phản ứng hạt nhân.

Trong bối cảnh đó, các thành viên Ban điều hành VietNuc - trong đó có Chủ tịch Bùi Nguyễn Hoàng (Tập đoàn Điện lực quốc gia Pháp - EDF), Ứng Quốc Hùng (Tập đoàn Tư vấn thiết kế kỹ thuật đa ngành Setec), Vũ Minh Ngọc (Cơ quan Quản lý chất thải phóng xạ quốc gia Pháp - Andra) – kỳ vọng rằng Đại hội XIV sẽ chú trọng hoàn thiện các cơ chế, chính sách nhằm phát huy hiệu quả hơn vai trò của đội ngũ chuyên gia năng lượng hạt nhân người Việt Nam ở nước ngoài. Theo đó, cần xây dựng cơ chế kết nối chính thức, thường xuyên giữa các bộ, ngành, cơ quan trong nước với các mạng lưới chuyên gia Việt Nam ở nước ngoài, tránh tình trạng hợp tác mang tính tự phát, ngắn hạn; chủ động đề nghị, hỗ trợ nhằm hình thành các mạng lưới chuyên gia chính thức theo lĩnh vực trọng điểm trong nước, trong đó các tổ chức như VietNuc có vai trò cầu nối, giúp kết nối tri thức toàn cầu với nhu cầu phát triển trong nước một cách bền vững và hiệu quả.

Tiến sĩ Ứng Quốc Hùng, Kỹ sư trưởng Tập đoàn Setec Nucléaire (Pháp) và là Phó Chủ tịch Mạng lưới chuyên gia năng lượng hạt nhân người Việt ở nước ngoài (VietNuc).
 Ảnh: TTXVN phát

Bên cạnh các chính sách đãi ngộ phù hợp, cần tạo hành lang pháp lý và hành chính nhằm trao trách nhiệm, quyền tham gia thực chất gắn với yêu cầu kết quả đối với chuyên gia và trí thức nước ngoài; thúc đẩy các cơ chế để chuyên gia người Việt Nam ở nước ngoài được tham gia trực tiếp vào hoạch định chính sách, xây dựng tiêu chuẩn, đào tạo nhân lực và tư vấn kỹ thuật theo cơ chế làm việc linh hoạt, không ràng buộc hành chính; thể chế hóa vai trò tư vấn chiến lược của chuyên gia kiều bào, tạo điều kiện cho họ đóng góp chính thức, được công nhận và lâu dài. Đặc biệt, cần đảm bảo tính độc lập chuyên môn - yếu tố then chốt cho an toàn, nhất là trong lĩnh vực hạt nhân; đồng thời trao vai trò người dẫn dắt thế hệ cho những chuyên gia xuất sắc để dẫn dắt đội ngũ trẻ.

Đề cập đến định hướng hoạt động của mình, Ban điều hành VietNuc cho biết trong thời gian tới, Mạng lưới sẽ tiếp tục tăng cường kết nối và phát huy trí tuệ của cộng đồng chuyên gia Việt Nam toàn cầu trong lĩnh vực hạt nhân và năng lượng, tạo diễn đàn trao đổi học thuật và tư vấn chính sách có chiều sâu; đẩy mạnh chia sẻ tri thức thông qua hội thảo, xuất bản và truyền thông khoa học; hỗ trợ xây dựng và tham gia trực tiếp vào các chương trình đào tạo nguồn nhân lực, đặc biệt là trí thức trẻ, kết nối các trường đại học, viện nghiên cứu trong nước với các trung tâm nghiên cứu, tập đoàn hàng đầu thế giới; và tạo cầu nối lâu dài để đưa chuyên gia Việt Nam và quốc tế về Việt Nam đóng góp cho sự phát triển điện hạt nhân tại Việt Nam và trực tiếp tham gia các dự án lớn. Những định hướng này nhằm đồng hành cùng các chủ trương lớn của Đại hội XIV, góp phần chuẩn bị nền tảng khoa học – công nghệ và nguồn lực dài hạn cho chiến lược phát triển điện hạt nhân của Việt Nam trong tương lai./.

Tin liên quan


Tin cùng chuyên mục

Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam qua góc nhìn chuyên gia Campuchia

Đại hội XIV của Đảng được xem điểm khởi đầu công cuộc “Đổi Mới lần 2”, đánh dấu cột mốc bắt đầu kỷ nguyên phát triển mới của Việt Nam, hướng tới các mục tiêu mang tầm quốc gia vào năm 2030 và 2045, cũng như những vấn đề về lý luận và thực tiễn của cách mạng Việt Nam trên con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội trong bối cảnh hiện nay.

Giữ kỷ cương ngân sách, mở đường cho tăng trưởng

Giai đoạn 2021 - 2025 ghi dấu một chặng đường nhiều thử thách nhưng cũng rất đặc biệt của ngành tài chính Việt Nam. Trong bối cảnh kinh tế thế giới biến động khó lường, dịch bệnh, xung đột địa chính trị, lạm phát toàn cầu và đứt gãy chuỗi cung ứng đã tạo sức ép lớn lên mọi nền kinh tế, việc giữ vững ổn định tài chính ngân sách nhà nước, đồng thời tạo dư địa cho phục hồi và tăng trưởng, trở thành nhiệm vụ chưa từng có tiền lệ của ngành. Tuy nhiên, với sự lãnh đạo của Đảng, Quốc hội, Chính phủ và sự điều hành chủ động, linh hoạt của Bộ Tài chính, chính sách tài khóa đã phát huy vai trò trụ cột, góp phần quan trọng ổn định kinh tế vĩ mô và tạo nền tảng cho phát triển nhanh, bền vững.

Trụ cột kiến tạo nền tảng phát triển trong kỷ nguyên mới

Trong khí thế thi đua lập thành tích chào mừng Đại hội lần thứ XIV của Đảng, những kết quả mà ngành công thương đạt được trong nhiệm kỳ 2021–2025 là minh chứng sinh động cho vai trò nòng cốt, trụ cột của ngành trong sự nghiệp phát triển đất nước. Đây đồng thời là nền tảng quan trọng để ngành tiếp tục bứt phá, đóng góp xứng đáng vào mục tiêu xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, hiện đại và hội nhập sâu rộng đưa Việt Nam vững bước tiến vào kỷ nguyên phát triển mới.

“Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng vai trò của Đảng và coi công tác lựa chọn cán bộ của Đảng là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu. Người khẳng định:“Cán bộ là cái gốc của mọi công việc; muôn việc thành công hay thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”. Người cũng đặt ra yêu cầu đối với mỗi người cán bộ là phải có nhân cách, phát triển toàn diện về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Và để lựa chọn được những cán bộ hội tụ đủ cả “ĐỨC” và “TÀI” cho Đảng, Bác yêu cầu “Phải công tâm, khách quan, lựa chọn người thực sự tiêu biểu về trí tuệ, phẩm chất, đạo đức và năng lực hành động”.

Nền tảng mới cho động lực tăng trưởng xanh

Trong giai đoạn 2021 - 2025, ngành nông nghiệp và môi trường đánh dấu bước chuyển quan trọng, khi tái cơ cấu ngành không dừng ở điều chỉnh kỹ thuật sản xuất mà đã trở thành quá trình đổi mới toàn diện tư duy phát triển. Từ nền nông nghiệp nặng về sản lượng, Việt Nam đang từng bước hình thành kinh tế nông nghiệp dựa trên giá trị gia tăng, chất lượng, hiệu quả và bền vững. Trong bối cảnh dịch bệnh, biến đổi khí hậu và biến động sâu sắc của thị trường toàn cầu, những kết quả đạt được không chỉ khẳng định vai trò trụ đỡ của ngành nông nghiệp mà còn mở ra dư địa mới. Đưa khu vực này trở thành một trong những động lực tăng trưởng quan trọng của nền kinh tế trong giai đoạn tới.

Nâng tầm vị thế trong chặng đường phát triển mới

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Đại hội XIV) của Đảng Cộng sản Việt Nam là một sự kiện then chốt trong hành trình bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên phát triển của dân tộc Việt Nam và có ý nghĩa cột mốc. Là điểm khởi đầu của một kỷ nguyên mới, Đại hội XIV sẽ làm rõ kế hoạch phát triển trong tương lai, định hướng cho Việt Nam đạt được mục tiêu dài hạn trở thành quốc gia công nghiệp hiện đại có thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045. Đó là chia sẻ của ông Hứa Ninh Ninh (Xu Ningning), Chủ tịch Ủy ban Hợp tác công nghiệp trong khuôn khổ Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP), với phóng viên TTXVN tại Bắc Kinh về ý nghĩa của Đại hội XIV đối với sự phát triển của Việt Nam trong kỷ nguyên mới.

Việt Nam hướng tới quy mô nền kinh tế 1.000 tỷ USD

Việt Nam đang đứng trước một cột mốc phát triển mang tính lịch sử: Quy mô nền kinh tế đạt 1.000 tỷ USD trong những năm tới. Với đà tăng trưởng tích cực, nhiều dự báo cho thấy mục tiêu này có thể đạt được vào khoảng năm 2031–2032 nếu duy trì tốc độ tăng trưởng cao, hoặc muộn hơn vào năm 2040. Đây không chỉ là bài toán về quy mô, mà còn là thước đo cho chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.