Điện - nền tảng cho tăng trưởng GDP hai con số
Để đạt mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số từ năm 2026, điện phải được coi là hạ tầng nền tảng, bảo đảm đủ nguồn, vận hành ổn định, cùng cơ chế giá và đầu tư minh bạch. Khi “bài toán điện” được giải quyết một cách thông suốt, điện sẽ không còn là điểm nghẽn, mà trở thành đòn bẩy trực tiếp cho công nghiệp hóa, chuyển đổi số và tăng trưởng bền vững của nền kinh tế - chuyên gia kinh tế, PGS.TS Ngô Trí Long nêu quan điểm trong cuộc phỏng vấn với phóng viên TTXVN.


PGS.TS Ngô Trí Long - Chuyên gia kinh tế. 
Ảnh: TTXVN phát

Phóng viên: Xin ông cho biết, những yếu tố đặt ra và thách thức trong tăng trưởng điện để bảo đảm mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số từ năm 2026 trở đi?

PGS.TS Ngô Trí Long: Để tăng trưởng GDP hai con số từ năm 2026 trở đi, “bài toán điện” không chỉ dừng ở việc có đủ kWh, mà quan trọng hơn là phải có đủ điện đúng lúc, đúng nơi, đúng chất lượng và đúng giá. Đây là yêu cầu rất cao đối với ngành điện trong bối cảnh nền kinh tế đang bước vào giai đoạn tăng tốc mạnh mẽ.

Theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, điện thương phẩm đến năm 2030 được dự báo đạt khoảng 500,4 - 557,8 tỷ kWh, tương ứng mức tăng bình quân 10,3 - 12,5% mỗi năm. Đây là tốc độ rất cao, nhất là khi các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, trung tâm dữ liệu, quá trình điện khí hóa sản xuất và chuyển đổi số đang đồng loạt gia tăng nhu cầu.

Vậy thách thức lớn đặt ra là nếu nguồn điện và hệ thống lưới điện không được chuẩn bị “đi trước một bước”, nền kinh tế có thể đối mặt nguy cơ thiếu điện cục bộ, từ đó làm giảm năng lực cạnh tranh và ảnh hưởng tới niềm tin của nhà đầu tư.

Bên cạnh đó, khi chuyển dịch cơ cấu nguồn điện với tỷ trọng năng lượng tái tạo tăng, hệ thống điện cần “điện nền + linh hoạt”. Quy hoạch điện VIII điều chỉnh đặt mục tiêu mở rộng mạnh nguồn điện sạch, đồng thời tái cân đối vai trò của các nguồn để đảm bảo cung cấp an ninh năng lượng.

Đối với thách thức kỹ thuật là tính biến động của gió - mặt trời đòi hỏi hệ thống điện phải có đủ nguồn linh hoạt như thủy điện tích năng, tua-bin khí, các giải pháp lưu trữ, dự phòng quay và tiêu chuẩn vận hành cao hơn. Nếu thiếu “độ linh hoạt”, nguy cơ sự cố hệ thống điện và cắt giảm công suất sẽ gia tăng.

Một rủi ro khác không thể bỏ qua là vấn đề nhiên liệu và chuỗi cung ứng cho điện khí LNG và than trong giai đoạn quá độ. Thực tế cho thấy kế hoạch điện khí/LNG có thể chịu rủi ro về tiến độ hạ tầng cảng-kho, hợp đồng nhiên liệu và giá quốc tế. Một số bản tin quốc tế về quá trình điều chỉnh mục tiêu cũng nhấn mạnh áp lực từ các dự án khí chậm triển khai. Tôi cho rằng, muốn tăng trưởng 2 con số, Việt Nam cần hợp đồng nhiên liệu dài hạn, đa dạng nguồn nhập, cơ chế chia sẻ rủi ro giá và quản trị tiến độ dự án chặt chẽ để tránh “khoảng trống công suất”.

Biến đổi khí hậu cũng làm tăng tính bất định của thủy văn và nhu cầu công suất đỉnh. Bởi nắng nóng cực đoan làm phụ tải đỉnh tăng mạnh; khô hạn khiến huy động nguồn thủy điện suy giảm, khi đó hệ thống điện phải dựa nhiều hơn vào nguồn nhiệt điện than, khí và nhập khẩu nhiên liệu.

Các phân tích về an ninh điện của Việt Nam đều cho thấy mối liên hệ rõ ràng giữa thời tiết cực đoan và căng thẳng cung ứng điện. Điều này đòi hỏi hệ thống điện phải nâng cao khả năng chống chịu, thông qua việc tăng dự phòng công suất, áp dụng các chương trình điều chỉnh phụ tải, nâng cao chất lượng dự báo phụ tải và thời tiết, cùng với cơ chế huy động nguồn minh bạch.

Một thách thức rất lớn khác theo tôi là nhu cầu vốn đầu tư cho ngành điện. Quy hoạch điện VIII điều chỉnh cho thấy quy mô đầu tư cho cả nguồn và lưới điện là rất lớn, với các ước tính lên tới hàng trăm tỷ USD trong nhiều giai đoạn. Trong bối cảnh đó, vấn đề cốt lõi là khả năng “hấp thụ vốn” của các dự án, phụ thuộc trực tiếp vào cơ chế giá điện, khung hợp đồng mua bán điện, cơ chế đấu thầu - đấu giá, chia sẻ rủi ro tỷ giá và nhiên liệu, cũng như năng lực giải ngân. Việc Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) công bố giải ngân vốn đầu tư năm 2025 đạt 125.778 tỷ đồng cho thấy áp lực phải duy trì nhịp đầu tư cao và liên tục trong nhiều năm tới.

Ngoài yếu tố kỹ thuật và tài chính, tôi cho rằng thể chế thị trường điện và thủ tục đầu tư các dự án điện cũng là điểm nghẽn then chốt. Trong bối cảnh tăng trưởng hai con số, độ trễ đầu tư điện được xem là rủi ro lớn nhất, bởi chỉ cần chậm một năm có thể tạo ra hệ lụy thiếu hụt điện năng trong nhiều năm sau. Do đó, thách thức không chỉ nằm ở công nghệ hay vốn, mà còn ở khung pháp lý, thủ tục phê duyệt quy hoạch chi tiết, đất đai, môi trường, đấu nối, giải phóng mặt bằng và lựa chọn nhà đầu tư theo hướng minh bạch.

Để tăng trưởng GDP hai con số một cách bền vững từ năm 2026, tôi cho rằng Việt Nam cần coi phát triển điện thực sự là hạ tầng của tăng trưởng. Điều này đòi hỏi dự báo phụ tải sát với thực tế, hệ thống lưới điện phải đi trước một bước, kết hợp hiệu quả giữa năng lượng tái tạo với nguồn điện linh hoạt và lưu trữ, bảo đảm nhiên liệu trong giai đoạn quá độ, đồng thời hoàn thiện cơ chế giá và hợp đồng để huy động nguồn vốn dài hạn.

Để tăng trưởng GDP hai con số một cách bền vững, cần coi phát triển điện thực sự là hạ tầng của tăng trưởng. 
Ảnh: PC Cần Thơ

Phóng viên: Vậy ông đề xuất và kiến nghị những giải pháp nào để ngành điện đạt mục tiêu tăng trưởng trong thời gian tới?

PGS.TS Ngô Trí Long: Để tăng trưởng điện đủ nhanh, đủ sạch và đủ tin cậy từ năm 2026 trở đi, theo tôi cần chuyển từ tư duy đơn thuần “làm thêm nguồn điện” sang cách tiếp cận tổng thể, thiết kế lại toàn bộ chuỗi giá trị điện. Trọng tâm của cách tiếp cận này là bảo đảm đủ điện đúng thời điểm, xây dựng cơ chế giá phản ánh chi phí hợp lý nhưng vẫn bảo vệ các nhóm yếu thế, đồng thời đồng bộ hóa thủ tục, thị trường và hạ tầng điện.

Theo tôi trước hết, cần sớm chốt quy hoạch và tháo gỡ các vướng mắc thủ tục theo cơ chế “một cửa – một mốc thời gian”. Điểm nghẽn lớn nhất hiện nay không chỉ nằm ở vốn hay công nghệ, mà chính là thời gian xử lý thủ tục. Việc thiết kế cơ chế một cửa liên ngành cho các dự án điện, gắn với thời hạn xử lý rõ ràng và trách nhiệm của người đứng đầu sẽ giúp rút ngắn đáng kể độ trễ trong đầu tư. Với dự án chậm tiến độ vì vướng thủ tục, cần cơ chế “gỡ theo hồ sơ” thay vì “gỡ theo sự vụ”, công khai danh mục dự án và trạng thái phê duyệt để tạo áp lực minh bạch.

Song song với đó, hệ thống điện cần ưu tiên các nguồn có khả năng triển khai nhanh, đồng thời bảo đảm nền tảng điện nền đủ vững chắc. Muốn tăng trưởng GDP cao, hệ thống cần nguồn điện không chỉ nhiều mà còn ổn định.

Vì vậy, tăng tốc đầu tư các dự án nguồn điện có thời gian xây dựng ngắn như điện mặt trời/điện gió phù hợp lưới điện, thuỷ điện nhỏ hiệu quả, sinh khối, rác thải… nhưng phải đi kèm yêu cầu đấu nối lưới điện và khả năng giải tỏa công suất nguồn điện này. Đồng thời củng cố nguồn điện nền như khí/LNG, than chuyển đổi công nghệ sạch hơn, thủy điện lớn và các giải pháp linh hoạt để hệ thống điện không “mỏng” vào giờ cao điểm hay mùa khô.

Một giải pháp quan trọng khác là tiếp tục coi tiết kiệm điện và quản lý nhu cầu như một “nguồn điện vô hình”. Nhiều quốc gia coi tiết kiệm điện là nhà máy điện rẻ nhất. Việt Nam cần biến mục tiêu tiết kiệm thành nghĩa vụ thực thi: Chuẩn hiệu suất năng lượng tối thiểu, dán nhãn, kiểm toán năng lượng bắt buộc với ngành tiêu thụ lớn; Chương trình điều chỉnh phụ tải (DR) theo giá/giờ cao điểm, khuyến khích doanh nghiệp dịch chuyển sản xuất khỏi giờ đỉnh; đưa “tiết kiệm” thành chỉ tiêu đánh giá quản trị ở các đơn vị sử dụng ngân sách và doanh nghiệp nhà nước.

Bên cạnh đó, việc hoàn thiện thị trường điện và các hợp đồng mua bán điện đóng vai trò then chốt trong việc giảm rủi ro cho nhà đầu tư. Điện là ngành hạ tầng dài hạn, chỉ có thể thu hút dòng vốn lớn khi rủi ro hợp đồng được kiểm soát. Do đó, cần chuẩn hóa hợp đồng mua bán điện (PPA), phân bổ rủi ro hợp lý về tỷ giá, nhiên liệu, sản lượng và cắt giảm công suất. Đồng thời, cơ chế mua bán điện trực tiếp (DPPA – cơ chế cho phép khách hàng lớn mua điện trực tiếp từ nhà sản xuất, không qua khâu bán lẻ truyền thống) cần được mở rộng để doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (FDI) và doanh nghiệp xuất khẩu có thể tiếp cận nguồn điện xanh, vừa giảm áp lực vốn nhà nước, vừa đáp ứng yêu cầu của các chuỗi cung ứng quốc tế.

Về chính sách giá điện, tôi cho rằng cần cải cách theo nguyên tắc “đúng – đủ – minh bạch”. Giá điện cần phản ánh đầy đủ chi phí hợp lý để tạo nguồn lực tái đầu tư, nhưng lộ trình điều chỉnh phải có tính dự báo và đi kèm cơ chế an sinh xã hội có mục tiêu. Việc công khai cấu phần chi phí, lộ trình điều chỉnh và các chỉ tiêu chất lượng dịch vụ, cùng với hỗ trợ trực tiếp cho các hộ nghèo và đối tượng chính sách sẽ giúp tránh tình trạng “bình quân hoá” làm méo mó tín hiệu giá.

Ngoài ra, huy động vốn cho ngành điện cần được triển khai theo các gói tổng hợp, kết hợp tài chính xanh, cơ chế bảo lãnh rủi ro hợp lý và thúc đẩy nội địa hóa chuỗi cung ứng. Trái phiếu xanh, tín dụng xanh, các quỹ chuyển dịch năng lượng cùng với cơ chế chia sẻ rủi ro có điều kiện cho các dự án trọng điểm sẽ là những kênh quan trọng. Đồng thời, việc nội địa hóa thiết bị và dịch vụ trong ngành điện sẽ giúp giảm phụ thuộc nhập khẩu và hạ chi phí toàn hệ thống điện.

Cuối cùng, nâng cao chất lượng điều độ và đẩy mạnh số hóa hệ thống là yêu cầu không thể thiếu trong giai đoạn tăng trưởng mới. Các công cụ dự báo phụ tải, dự báo năng lượng tái tạo, vận hành lưới điện thông minh, đo đếm thông minh và quản trị dữ liệu sẽ giúp giảm tổn thất điện năng, hạn chế sự cố và tối ưu chi phí vận hành hệ thống điện Quốc gia.

Mục tiêu tăng trưởng điện không thể đạt được bằng một giải pháp đơn lẻ, mà đòi hỏi một gói giải pháp đồng bộ từ cải cách thủ tục, đầu tư lưới điện, đa dạng hóa nguồn điện, quản lý nhu cầu điện cho tới hoàn thiện thị trường điện và chính sách giá điện minh bạch. Khi những trụ cột này “chạy” cùng nhịp, điện sẽ trở thành hạ tầng bệ phóng, vừa bảo đảm an ninh năng lượng Quốc gia, vừa tạo nền vững cho mục tiêu tăng trưởng GDP cao và bền vững cho giai đoạn 5 năm tới (2026 - 2030).

Phóng viên: Xin trân trọng cảm ơn ông!


Tin liên quan

Việt Nam không chỉ tăng trưởng mà đang từng bước nâng cao vị thế

Việt Nam không chỉ tăng trưởng mà đang từng bước nâng cao vị thế khi tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng, hội nhập quốc tế chủ động hơn và ngày càng coi khoa học – công nghệ là chìa khóa cho năng suất và năng lực cạnh tranh. Đây là nhận định của Phó Giáo sư Lê Đức Anh, Khoa Điện – Điện tử của Đại học Tokyo, Đại biểu Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ XI trong cuộc phỏng vấn với phóng viên TTXVN tại Tokyo trước thềm Đại hội Thi đua yêu nước (ngày 26 - 27/12).

Đổi mới sáng tạo: Trụ cột cho giai đoạn tăng trưởng mới

Đổi mới sáng tạo được khẳng định là động lực then chốt, là đòn bẩy mạnh mẽ để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn mới - kỷ nguyên đất nước chuyển mình. Dự thảo chương trình hành động của Ban chấp hành Trung ương Đảng thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã nêu rõ, việc xác lập mô hình tăng trưởng mới, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính, được xác định là một trong những nhiệm vụ chủ yếu.

ĐẠI HỘI ĐẢNG XIV: Năng lượng - chìa khóa tăng trưởng của Việt Nam đến năm 2045

Trong bối cảnh Việt Nam đang chuẩn bị tổ chức Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, với trọng tâm là đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất và hướng tới phát triển nhanh nhưng bền vững, những đánh giá từ các chuyên gia quốc tế đang thu hút nhiều sự quan tâm. Trao đổi với phóng viên TTXVN tại Brussels, ông Eric Van Vaerenbergh – chuyên gia năng lượng, giảng viên Trường Cao đẳng Kỹ nghệ Brussels (ECAM), cho rằng Việt Nam hoàn toàn có cơ hội tăng trưởng nhanh đến năm 2045, với điều kiện phải thay đổi căn bản cách tạo ra giá trị và bảo đảm một nền móng năng lượng đủ mạnh, đủ tin cậy.

Chuyên gia lý giải việc tiêu thụ điện tăng thấp hơn tăng trưởng GDP

Theo các báo cáo gần đây của ngành điện, sản lượng điện thương phẩm năm 2025 của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đạt khoảng 287,9 tỷ kWh, tăng 4,9% so với năm 2024. Trong khi đó, tăng trưởng GDP năm 2025 ước đạt 8,02%. Như vậy, hệ số đàn hồi điện/GDP – tức tỷ lệ giữa tăng trưởng nhu cầu điện và tăng trưởng kinh tế ở mức dưới 1, cho thấy điện tăng trưởng chậm hơn GDP.

Tin cùng chuyên mục

Xuất nhập khẩu Việt Nam lập kỷ lục

Dù đối mặt nhiều thách thức, hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam năm 2025 vẫn ghi nhận kết quả tích cực. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2025 vẫn lập kỷ lục mới, ước đạt 920 tỷ USD, đưa Việt Nam vào top 15 cường quốc thương mại toàn cầu, tạo bệ phóng mới cho tăng trưởng kinh tế.

Từ Tổng tuyển cử đầu tiên tới khát vọng vươn mình

Cách đây tròn 80 năm, ngày 6/1/1946 đã đi vào lịch sử dân tộc khi lần đầu tiên mọi công dân từ 18 tuổi trở lên, không phân biệt gái trai, giàu nghèo, dân tộc, tôn giáo, thành phần xã hội đều nô nức cầm trên tay lá phiếu tự bầu ra Quốc hội - cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Việt Nam mới. Quốc hội đã quyết nghị những vấn đề hệ trọng nhất của quốc gia: thông qua Hiến pháp, xác lập nền tảng pháp lý cho một nhà nước độc lập.

Quốc hội Việt Nam: trí tuệ, bản lĩnh, phụng sự và kiến tạo

Trong suốt 24 năm ở cương vị nguyên thủ quốc gia, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành nhiều tâm huyết vào việc xây dựng và củng cố bộ máy nhà nước nói chung và Quốc hội nói riêng. Bất kỳ thời điểm lịch sử nào, trong tư tưởngHồ Chí Minh, Quốc hội - cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân Việt Nam cũng là một thiết chế dân chủ, để thông qua đó nhân dân thực hiện sự uỷ thác quyền lực của mình.

Sôi nổi hội thi giã bánh giày ở vùng cao Mù Cang Chải

Theo UBND xã Mù Cang Chải (tỉnh Lào Cai), hội thi giã bánh giầy góp phần làm phong phú đời sống tinh thần của nhân dân, đồng thời bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống gắn với phát triển du lịch bền vững.

Những người "giữ lửa" múa rối nước Hồng Phong

Bằng tình yêu với nghệ thuật truyền thống, những nghệ nhân phường múa rối nước Hồng Phong tại xã Khúc Thừa Dụ, thành phố Hải Phòng đã không quản ngại khó khăn, vất vả để giữ lửa cho bộ môn nghệ thuật dân gian độc đáo của cha ông để lại không bị mai một theo thời gian.

Bộ trưởng Bộ Tài chính giao 7 nhiệm vụ trọng tâm cho ngành chứng khoán

Tại Lễ đánh cồng khai trương phiên giao dịch chứng khoán đầu năm 2026 của Sở Giao dịch Chứng khoán Việt Nam, được tổ chức tại Hà Nội vào sáng 5/1, Bộ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Văn Thắng nhấn mạnh, trước những thách thức với nhiều biến động khó lường, ngành chứng khoán tiếp tục phải đổi mới mạnh mẽ hơn nữa theo hướng chủ động, linh hoạt.

2025 - Năm chuyển mình

Năm 2025, Đất nước đã chứng kiến rất nhiều thay đổi mạnh mẽ, tích cực từng ngày trên tất cả các lĩnh vực, tạo không khí vui tươi, phấn khởi, tin tưởng cho toàn dân, toàn quân, và có thể ví như bước chuyển mình cần thiết cho một kỷ nguyên vươn mình, hướng tới một quốc gia giàu mạnh, phồn vinh, hùng cường.