![]() |
| Nhà ở xã hội dành cho công nhân Khu công nghiệp Đông Mai do Tổng công ty Viglacera làm chủ đầu tư. Ảnh: Viglacera |
* Từ mục tiêu an sinh đến yêu cầu phát triển bền vững
Theo ông Nguyễn Hữu Tiến, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học Công nghệ, Môi trường và Vật liệu xây dựng (Bộ Xây dựng), quá trình đô thị hóa nhanh đang kéo theo nhu cầu phát triển nhà ở và văn phòng với tốc độ lớn, tạo áp lực đáng kể lên hạ tầng đô thị và môi trường. Việt Nam cũng như nhiều quốc gia trên thế giới đang phải đối mặt với hàng loạt thách thức như gia tăng phát thải khí nhà kính, suy giảm sức chịu tải môi trường tại các đô thị lớn, cùng những tác động ngày càng rõ nét của biến đổi khí hậu, nước biển dâng và thời tiết cực đoan.
“Thúc đẩy phát triển công trình xanh, giảm phát thải carbon là một trong những nội dung được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm. Các nghị quyết của Trung ương cũng xác định ưu tiên phát triển theo mô hình kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn; khuyến khích phát triển hạ tầng xanh, đô thị xanh, sử dụng vật liệu tiết kiệm năng lượng”, ông Tiến nhấn mạnh.
Theo thống kê của Tổ chức Tài chính quốc tế (IFC) thuộc Ngân hàng Thế giới, đến hết Quý I/2026, cả nước đã có hơn 828 công trình được chứng nhận công trình xanh với tổng diện tích sàn khoảng 20,8 triệu m2. Việt Nam hiện cũng nằm trong nhóm các quốc gia có số lượng công trình xanh tăng trưởng nhanh trên thế giới.
Từ mục tiêu chuyển đổi xanh trong lĩnh vực xây dựng, ông Nguyễn Hồng Hải, Viện trưởng Viện Khoa học Công nghệ xây dựng (IBST) cho rằng, phát triển nhà ở xã hội và chuyển đổi xanh không còn là hai nhiệm vụ tách rời. Nhà ở xã hội trong giai đoạn mới cần được phát triển theo hướng vừa bảo đảm khả năng tiếp cận cho người dân, vừa nâng cao chất lượng sống, tiết kiệm năng lượng, sử dụng tài nguyên hiệu quả và giảm phát thải trong toàn bộ vòng đời công trình. Chương trình phát triển một triệu căn hộ nhà ở xã hội không chỉ mang ý nghĩa an sinh mà còn mở ra cơ hội để ngành xây dựng hình thành các mô hình nhà ở tối ưu hơn về thiết kế, hiệu quả hơn trong vận hành và bền vững hơn trong sử dụng vật liệu.
Để hiện thực hóa mục tiêu này, ông Hải cho rằng cần tăng cường kết nối giữa chính sách, khoa học công nghệ, tài chính xanh và thực tiễn triển khai; trong đó, các giải pháp trọng tâm bao gồm phương pháp định lượng phát thải, xây dựng tiêu chuẩn công trình phát thải thấp, phát triển vật liệu xanh, tối ưu thông gió tự nhiên, nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng và cải thiện chất lượng môi trường trong nhà….
Vấn đề then chốt hiện nay là xây dựng tiêu chí kỹ thuật để xác định công trình phát thải thấp; bảo đảm tính khả thi của các giải pháp nhằm không làm tăng chi phí vượt khả năng tiếp cận của người dân; đồng thời hoàn thiện cơ chế kết nối chính sách, dữ liệu, tiêu chuẩn và tài chính xanh để đưa các giải pháp vào thực tế.
“Phát triển nhà ở xã hội phát thải carbon thấp không chỉ là yêu cầu về môi trường mà còn góp phần giảm chi phí vận hành lâu dài, nâng cao chất lượng không gian sống và tăng sức cạnh tranh cho ngành xây dựng”, ông Hải nhấn mạnh.
* Xu hướng vật liệu xanh và công nghệ thấp
![]() |
| Dự án Chung cư nhà ở xã hội Thành Phố Vàng (Tây Ninh). Ảnh: Thanh Tân - TTXVN |
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Việt Nam đang bước vào giai đoạn then chốt trong việc thực hiện các cam kết quốc tế về giảm phát thải khí nhà kính. Khung pháp lý về giảm phát thải đang được hoàn thiện trên cơ sở Luật Bảo vệ môi trường 2020 cùng các nghị định về kiểm kê khí nhà kính và phát triển thị trường carbon trong nước.
Ông Trần Hà Ninh, đại diện Cục Biến đổi khí hậu (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho biết, bản cập nhật đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC 3.0) dự kiến công bố trong quý II/2026 đặt mục tiêu giảm từ 17% đến 49% tổng lượng phát thải khí nhà kính vào năm 2035 so với kịch bản phát triển thông thường; trong đó, lĩnh vực công trình xây dựng và tòa nhà dân dụng được xem là một trong những trọng tâm giảm phát thải thông qua các giải pháp như điện mặt trời mái nhà, thiết bị chiếu sáng hiệu suất cao, hệ thống làm mát tiết kiệm năng lượng và vật liệu phát thải thấp.
Từ thực tiễn, ông Ninh cho rằng, cần triển khai đồng bộ bốn nhóm giải pháp cốt lõi gồm ứng dụng vật liệu xây dựng xanh; sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; sử dụng môi chất lạnh thân thiện với khí hậu; và phát triển các mô hình đô thị phát thải thấp. Đây không chỉ là các gợi ý kỹ thuật mà còn là định hướng giúp các địa phương và doanh nghiệp chủ động thích ứng với xu hướng phát triển bền vững.
Ở góc độ doanh nghiệp, đại diện Công ty cổ phần Xi măng Fico Tây Ninh (Fico-YTL) cho biết, ngành xi măng hiện đóng vai trò then chốt trong lộ trình giảm phát thải của xây dựng Việt Nam; đồng thời chia sẻ dòng sản phẩm xanh ECOCem giúp giảm từ 30-70% lượng carbon hàm chứa so với xi măng Portland truyền thống.
Theo nghiên cứu của Viện Vật liệu xây dựng, lượng phát thải ròng của Fico-YTL trong năm tài chính 2025 chỉ còn khoảng 452 kg CO2 trên một tấn xi măng nhờ tối ưu hóa hoạt tính clinker và tận dụng phế phẩm công nghiệp trong sản xuất. Đáng chú ý, dự án nhà ở xã hội Long Bình Tân (Đồng Nai), giải pháp vật liệu xanh đã giúp giảm từ 25-87 kg CO2 trên mỗi mét vuông sàn xây dựng, tương đương khoảng 8.000 tấn CO2 cho toàn bộ công trình. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp cũng cho rằng quá trình chuyển đổi xanh vẫn gặp nhiều khó khăn do thiếu cơ chế khuyến khích phù hợp; hạn ngạch phát thải hiện mới được tính trên sản lượng clinker thay vì thành phẩm xi măng, khiến các doanh nghiệp đầu tư công nghệ giảm phát thải chưa có nhiều lợi thế.
“Trong trung hạn, sản xuất xi măng phát thải thấp là biện pháp giảm carbon hiệu quả nhất cho ngành xi măng Việt Nam vì gắn trực tiếp với giá thành và uy tín chuyển đổi xanh của doanh nghiệp”, đại diện doanh nghiệp chia sẻ.
Cũng tại hội thảo, Viện Khoa học Công nghệ xây dựng đã giới thiệu bộ “Hướng dẫn thiết kế nhà ở xã hội carbon thấp cho các vùng miền”, qua đó chuyển hóa các yêu cầu “xanh” thành giải pháp có thể triển khai trực tiếp trong các dự án thực tế, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đang hướng tới mục tiêu phát triển một triệu căn nhà ở xã hội./.


