![]() |
| Lòng hồ thủy điện Hòa Bình. Ảnh: Trọng Đạt-TTXVN |
Với hơn 6.700 hồ chứa thủy lợi, tổng dung tích khoảng 14,5 tỷ m³, Việt Nam đang sở hữu một “kho tài nguyên xanh” đặc biệt quý giá cho phát triển nuôi trồng thủy sản. Trải dài từ miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ đến Tây Nguyên, hệ thống hồ chứa không chỉ đảm nhiệm vai trò cấp nước, phát điện, điều tiết lũ mà còn là không gian sinh thái giàu tiềm năng để phát triển kinh tế thủy sản, du lịch và sinh kế bền vững.
Trong bối cảnh ngành thủy sản đang chuyển dịch theo hướng giảm khai thác, tăng nuôi trồng, nuôi trồng thủy sản trên hồ chứa được xem là một trụ cột mới, giàu dư địa nhưng cũng đầy thách thức cần tháo gỡ.
Các tỉnh thành phía Bắc hiện là khu vực hội tụ những điều kiện thuận lợi nhất để phát triển nuôi trồng thủy sản hồ chứa. Hàng loạt hồ lớn như Hòa Bình, Sơn La, Thác Bà, Na Hang, Lai Châu, Bản Chát… với diện tích mặt nước lên tới hàng trăm nghìn héc-ta tạo nên không gian sản xuất rộng lớn, đặc biệt phù hợp với nuôi lồng bè và nuôi thả kết hợp. Không chỉ có lợi thế về diện tích, nhiều hồ còn sở hữu chất lượng nước tốt, độ sâu lớn, ít chịu tác động ô nhiễm công nghiệp, cho phép phát triển đa dạng đối tượng nuôi từ cá truyền thống đến cá đặc sản, thậm chí cả cá nước lạnh ở vùng cao.
Thực tế cho thấy, nuôi trồng thủy sản hồ chứa đã và đang trở thành sinh kế quan trọng tại nhiều địa phương. Theo Cục Thủy sản và Kiểm ngư, các hồ lớn miền Bắc hiện có trên 22.000 lồng nuôi, sản lượng đạt khoảng 50.000 tấn mỗi năm, tập trung tại Sơn La, Hòa Bình, Tuyên Quang và Thác Bà. Bên cạnh nuôi lồng, hình thức nuôi thả cải tiến trong lòng hồ và các eo ngách cũng phát triển mạnh, gắn với cộng đồng dân cư ven hồ. Năng suất nuôi ở khu vực này được đánh giá tương đối cao so với các vùng khác.Tại Lào Cai, việc khai thác tiềm năng mặt nước hồ Thác Bà đang được thúc đẩy mạnh mẽ. Ông Nguyễn Thái Bình, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh cho biết, địa phương coi nuôi trồng thủy sản là một trong những hướng đi quan trọng nhằm nâng cao thu nhập, tạo việc làm. Với hệ thống hơn 200 hồ chứa cùng các dòng sông lớn như sông Hồng, sông Chảy, tỉnh đặt mục tiêu đến năm 2030 phát triển nuôi cá lồng đạt khoảng 300.000 m³, sản lượng khoảng 7.000 tấn. Đáng chú ý, Lào Cai đang chuyển mạnh từ phát triển tự phát sang phát triển theo quy hoạch, phân vùng rõ khu vực nuôi, khu bảo vệ nguồn lợi và khu hạn chế phát triển.
Tuyên Quang cũng là điểm sáng với diện tích mặt nước trên 18.600 ha. Những năm gần đây, số lượng lồng nuôi tăng đều, quy mô ngày càng lớn. Trong 3 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh có 3.329 lồng nuôi, tăng hơn 8% so với cùng kỳ năm trước, sản lượng đạt trên 4.200 tấn. Theo ông Trịnh Văn Bình, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh, người nuôi đã chuyển từ lồng nhỏ sang lồng lớn trên 200 m³, đầu tư bài bản hơn về giống, thức ăn và kỹ thuật. Đặc biệt, cơ cấu đối tượng nuôi đang chuyển dịch mạnh sang các loài cá đặc sản, giá trị cao như cá bỗng, cá chiên, cá lăng, cá tầm… góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế.Không chỉ dừng ở sản xuất, nhiều địa phương đã bước đầu hình thành các mô hình gắn nuôi trồng với du lịch sinh thái, trải nghiệm lòng hồ, qua đó gia tăng giá trị và đa dạng nguồn thu. Tại Tuyên Quang, việc kết hợp nuôi cá với dịch vụ câu cá, du lịch cộng đồng đang mở ra hướng phát triển mới, vừa khai thác hiệu quả tài nguyên, vừa bảo tồn hệ sinh thái.Tuy nhiên, đằng sau những kết quả tích cực, nuôi trồng hồ chứa vẫn đang phát triển dưới mức tiềm năng. Một trong những điểm nghẽn lớn nhất là sản xuất còn manh mún, phân tán, thiếu liên kết. Phần lớn sản phẩm tiêu thụ qua thương lái, chủ yếu ở dạng tươi sống, chưa qua chế biến sâu, khiến giá trị gia tăng thấp và tiềm ẩn rủi ro về đầu ra. Thị trường tiêu thụ hiện vẫn chủ yếu là nội địa, tập trung tại các đô thị lớn như Hà Nội.
Hạ tầng và dịch vụ hỗ trợ cũng là “nút thắt” kéo dài nhiều năm. Nhiều vùng hồ còn thiếu đường giao thông thuận lợi, bến cá, kho lạnh, cơ sở chế biến. Phần lớn hộ nuôi vẫn sử dụng lồng gỗ truyền thống quy mô nhỏ, trong khi việc ứng dụng công nghệ mới như lồng HDPE, hệ thống cho ăn tự động, quan trắc môi trường còn hạn chế. Dịch vụ cung ứng giống, thức ăn, tín dụng chưa phát triển đồng bộ, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa.Vấn đề môi trường và dịch bệnh cũng đang đặt ra những thách thức mới. Dù chất lượng nước tại nhiều hồ còn tốt, nhưng nguy cơ ô nhiễm cục bộ và phát sinh dịch bệnh có xu hướng gia tăng tại các khu vực nuôi mật độ cao. Việc thiếu hệ thống quan trắc môi trường và kiểm soát thức ăn, chất thải khiến rủi ro ngày càng lớn.
Đáng chú ý, những vướng mắc về thể chế và quản lý đang là rào cản đáng kể. Ông Trịnh Văn Bình cho biết, các địa phương hiện còn lúng túng trong thủ tục giao, cho thuê mặt nước, cũng như xác định mức thuê đối với hồ thủy lợi, thủy điện. Công tác quản lý còn phân tán giữa nhiều ngành, thiếu cơ sở dữ liệu đầy đủ về diện tích nuôi, sức tải môi trường và hiện trạng sản xuất.
Từ góc độ quản lý ngành, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến nhấn mạnh, nuôi trồng thủy sản hồ chứa có thể phát triển thành một ngành công nghiệp nếu được khai thác bài bản. Trong bối cảnh ngành thủy sản đang giảm dần tỷ trọng khai thác, việc đa dạng hóa không gian nuôi, đặc biệt ở nước ngọt, là yêu cầu cấp thiết để đạt mục tiêu tăng trưởng.
Để hiện thực hóa tiềm năng này, Thứ trưởng Phùng Đức Tiến cho rằng cần tập trung tháo gỡ đồng bộ nhiều “điểm nghẽn”. Trước hết là hoàn thiện thể chế, đặc biệt là cơ chế giao mặt nước, phân vùng nuôi và kiểm soát sức tải môi trường. Song song với đó là tổ chức lại sản xuất theo chuỗi, tăng cường liên kết giữa người nuôi, doanh nghiệp và thị trường. Việc đầu tư hạ tầng, phát triển dịch vụ hậu cần, chế biến cũng cần được đẩy mạnh.
Một hướng đi quan trọng khác là thúc đẩy ứng dụng khoa học – công nghệ. Từ việc sử dụng lồng nuôi hiện đại, hệ thống cho ăn tự động, đến quan trắc môi trường và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, tất cả đều nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và tính bền vững. Các cơ sở nghiên cứu cần tiếp tục chọn tạo giống mới, phát triển thức ăn phù hợp để nâng cao giá trị sản phẩm và giảm tác động môi trường, Thứ trưởng Phùng Đức Tiến nhấn mạnh./.

