![]() |
| Concert “Tự hào theo Đảng quang vinh - Quảng Ninh vươn mình cất cánh” đã thu hút hàng vạn khán giả. |
| Ảnh minh họa: Thanh Vân - TTXVN |
Văn hóa giữ vai trò nền tảng tinh thần của xã hội, phản ánh trình độ văn minh và bản sắc dân tộc. Bảo đảm quyền tiếp cận và thụ hưởng văn hóa của nhân dân không chỉ mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc mà còn là tiêu chí quan trọng để đánh giá sự phát triển bền vững. Trong bối cảnh hiện nay, việc thu hẹp khoảng cách hưởng thụ văn hóa giữa các vùng, miền và các nhóm xã hội là nhiệm vụ vừa cấp thiết, vừa lâu dài.
Văn hóa vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi”. Trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế, Đảng và Nhà nước ta luôn nhất quán quan điểm lấy con người làm trung tâm; trong đó, bảo đảm quyền tiếp cận và thụ hưởng văn hóa là nội dung cốt lõi. Trước yêu cầu chuyển đổi số, hội nhập sâu rộng và những thách thức mới về kinh tế, xã hội, môi trường, việc bảo đảm quyền văn hóa cho mọi tầng lớp nhân dân, đồng thời thu hẹp khoảng cách hưởng thụ văn hóa giữa các vùng, miền và các đối tượng xã hội, là điều kiện quan trọng để củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng xã hội công bằng, tiến bộ và phát triển bền vững.
![]() |
| Lễ hội Văn hóa Thế giới do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Việt Nam lần đầu tổ chức thu hút đông đảo đại diện các nền văn hóa trên thế giới tham dự. |
| Ảnh: Quốc Khánh - TTXVN |
*Thụ hưởng văn hóa – quyền cơ bản của con người
Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đỗ Thị Thanh Thủy, Trưởng ban Nghiên cứu Văn hóa, Viện Văn hóa, Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch), trong hơn 80 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, ngành văn hóa đã đạt nhiều thành tựu quan trọng trong việc bảo đảm và nâng cao quyền thụ hưởng văn hóa của nhân dân. Những kết quả này góp phần tạo nền tảng xây dựng xã hội nhân văn, công bằng và thịnh vượng, trong đó văn hóa được xác định là nền tảng, mục tiêu và động lực của phát triển đất nước.
Bà nhận định, thời gian qua, hệ thống chính sách văn hóa ở Việt Nam ngày càng hoàn thiện, tiệm cận và hài hòa hơn với các chuẩn mực quốc tế về quyền văn hóa. Dẫn chứng Luật Người khuyết tật năm 2010 (Luật số 51/2010/QH12), bà cho biết luật đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm quyền tiếp cận, tham gia và thụ hưởng các giá trị văn hóa, nghệ thuật, thể thao và giải trí của người khuyết tật trên cơ sở bình đẳng; đồng thời quy định trách nhiệm của Nhà nước và xã hội trong việc hỗ trợ để người khuyết tật hòa nhập đời sống tinh thần và phát huy năng lực sáng tạo.
Quyền tiếp cận và thụ hưởng văn hóa là một trong những quyền cơ bản của con người, được ghi nhận trong nhiều văn kiện quốc tế và được Hiến pháp năm 2013 khẳng định. Thụ hưởng văn hóa không chỉ là tiếp cận các sản phẩm văn hóa vật chất mà còn bao gồm việc tham gia sáng tạo, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, cũng như tiếp cận các giá trị văn hóa tinh thần lành mạnh. Đây là yếu tố quan trọng góp phần nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân cách và chất lượng cuộc sống của nhân dân.
Thực tiễn cho thấy, mức độ bảo đảm quyền văn hóa phản ánh trình độ phát triển và tính nhân văn của một quốc gia. Một xã hội phát triển toàn diện không chỉ được đo bằng tăng trưởng kinh tế mà còn bằng sự công bằng trong cơ hội tiếp cận và hưởng thụ các giá trị văn hóa giữa các nhóm xã hội.
Năm 2025 là một năm sôi động với khoảng 800 sự kiện văn hóa, âm nhạc được tổ chức trong cộng đồng, tiêu biểu là các concert,... đã làm phong phú đời sống văn hóa nghệ thuật của tất cả người dân trong cả nước.
Anh Trần Văn Hải, sinh sống tại phường Long Biên (Hà Nội), chia sẻ: Những năm qua, Việt Nam đã đạt nhiều kết quả trong việc mở rộng quyền thụ hưởng văn hóa của nhân dân. Hệ thống thiết chế văn hóa từ Trung ương đến cơ sở từng bước được đầu tư; nhiều chương trình đưa văn hóa về vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã góp phần cải thiện đời sống văn hóa tinh thần và thu hẹp khoảng cách hưởng thụ văn hóa.
Nhiều địa phương như Hà Nội, Huế, Yên Bái, Lào Cai đã hợp tác với các địa phương trong và ngoài nước triển khai các chương trình, dự án về nghệ thuật, bảo tồn và phát huy giá trị di sản, qua đó mở rộng cơ hội thụ hưởng văn hóa đa dạng cho nhân dân. Gần đây, các mô hình không gian văn hóa cộng đồng như phố đi bộ Hồ Hoàn Kiếm (Tới đây khu vực quanh Hồ Hoàn Kiếm tiếp tục được mở rộng), cùng việc mở cửa Công viên Thống Nhất (Hà Nội)... đã tạo điều kiện để người dân và du khách bình đẳng tham gia các hoạt động văn hóa- nghệ thuật, góp phần nâng cao đời sống tinh thần của cộng đồng. Việc tổ chức các sự kiện văn hóa -nghệ thuật quy mô lớn như Triển lãm thành tựu đất nước, Hội chợ Mùa Thu năm 2025, Hội chợ Mùa Xuân năm 2026 cùng các đại nhạc hội và chương trình nghệ thuật do Nhà nước, các bộ, ngành tổ chức đã thể hiện rõ quan điểm lấy con người làm trung tâm trong phát triển văn hóa và từng bước bảo đảm quyền tiếp cận, thụ hưởng văn hóa của nhân dân.
Tuy nhiên, việc bảo đảm quyền thụ hưởng văn hóa vẫn còn những hạn chế. Sự chênh lệch trong tiếp cận các dịch vụ văn hóa giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng, miền vẫn tồn tại; một số thiết chế văn hóa hoạt động chưa hiệu quả; đời sống văn hóa tinh thần của một bộ phận người dân, nhất là ở các khu vực khó khăn, chưa được đáp ứng đầy đủ.
Tại một số tỉnh miền núi như Điện Biên, Lai Châu, Sơn La, quyền đảm tiếp cận và thụ hưởng văn hóa của người dân có nơi, có lúc vẫn chưa được bảo đảm đầy đủ. Nhiều thôn, bản vùng sâu còn thiếu nhà văn hóa, thư viện, điểm truy cập internet; hoạt động sinh hoạt cộng đồng còn hạn chế. Một số lễ hội, làn điệu dân ca, nghề thủ công truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số đứng trước nguy cơ mai một do thiếu kinh phí và người kế thừa. Thực trạng này cần được quan tâm, đầu tư hiệu quả hơn để người dân được hưởng thụ đời sống văn hóa bình đẳng.
![]() |
| Tiết mục nghệ thuật chào mừng Ngày hội Văn hóa, Thể thao và Du lịch đồng bào dân tộc Khmer |
| Ảnh: Công Mạo - TTXVN |
*Hưởng thụ văn hóa giữa các vùng, miền
Những năm gần đây, đời sống văn hóa của nhân dân ngày càng phong phú, đa dạng. Các thiết chế văn hóa tiếp tục được củng cố; phong trào xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở được triển khai rộng khắp, gắn với Chương trình xây dựng nông thôn mới và đô thị văn minh, góp phần hình thành môi trường văn hóa lành mạnh từ gia đình, nhà trường đến cộng đồng. Các ngày hội, liên hoan văn hóa, thể thao và du lịch tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số được tổ chức thường xuyên, qua đó góp phần bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống, đồng thời nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân.
Công tác bảo tồn và phát huy di sản văn hóa đạt nhiều kết quả tích cực. Cả nước hiện có hơn 40.000 di tích và gần 70.000 di sản văn hóa phi vật thể đã được kiểm kê; 36 di sản được UNESCO ghi danh. Đến năm 2025, Việt Nam có 9 di sản thế giới, gồm 6 di sản văn hóa, 2 di sản thiên nhiên và 1 di sản hỗn hợp. Nhiều di tích sau khi được tu bổ, tôn tạo đã trở thành điểm đến văn hóa – du lịch hấp dẫn, góp phần tạo việc làm, nâng cao thu nhập và khơi dậy niềm tự hào dân tộc.
Hạ tầng công nghệ thông tin và truyền thông phát triển mạnh mẽ, tạo điều kiện thuận lợi để người dân tiếp cận thông tin và các sản phẩm văn hóa. Đến đầu năm 2025, Việt Nam có khoảng 7,4 triệu thuê bao OTT TV (dịch vụ truyền hình qua Internet); khoảng 61,5% người dùng Internet xem truyền hình và video trực tuyến trên các nền tảng OTT; 76,2 triệu tài khoản mạng xã hội, tương đương 75,2% dân số. Tỷ lệ thuê bao di động sử dụng điện thoại thông minh đạt 88,7%; 82,3% hộ gia đình có kết nối Internet cáp quang; tỷ lệ sử dụng giao thức Internet thế hệ thứ sáu (IPv6) đạt 60%, nằm trong nhóm 10 quốc gia dẫn đầu thế giới. Đây là nền tảng quan trọng thúc đẩy chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa, mở rộng cơ hội tiếp cận và thụ hưởng văn hóa cho người dân.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, mức độ hưởng thụ văn hóa giữa các vùng, miền và các nhóm xã hội vẫn còn chênh lệch. Tại các đô thị lớn, người dân có điều kiện tiếp cận đa dạng loại hình văn hóa hiện đại; trong khi đó, ở nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, cơ sở vật chất và hoạt động văn hóa còn hạn chế, chưa đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người dân.
Sự chênh lệch này cũng thể hiện giữa các nhóm xã hội như người nghèo, công nhân khu công nghiệp, người khuyết tật và trẻ em ở khu vực đô thị. Do hạn chế về thời gian, thu nhập và không gian sinh hoạt, nhiều đối tượng gặp khó khăn trong việc tham gia các hoạt động văn hóa trực tiếp, chủ yếu tiếp cận thông qua phương tiện truyền thông đại chúng.
*Chính sách bảo đảm quyền văn hóa cho nhân dân
Nhận thức rõ vai trò của văn hóa, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm bảo đảm quyền tiếp cận và thụ hưởng văn hóa của nhân dân, đồng thời thu hẹp khoảng cách hưởng thụ văn hóa giữa các vùng, miền và các nhóm xã hội. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030 nhấn mạnh yêu cầu phát triển văn hóa toàn diện, đầu tư có trọng tâm, trọng điểm cho vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, biên giới và hải đảo.
Cùng với đó là Chiến lược phát triển thể dục, thể thao đến năm 2030; Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa giai đoạn 2025–2035; Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Các chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững, phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số đều gắn với nhiệm vụ phát triển văn hóa cơ sở, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống.
Đồng thời, việc đẩy mạnh số hóa di sản, xây dựng thư viện số, bảo tàng số và các nền tảng văn hóa trực tuyến đã mở rộng không gian tiếp cận văn hóa, góp phần thu hẹp khoảng cách giữa các vùng, miền. Thông qua các không gian công cộng mở, sự kiện văn hóa -nghệ thuật đa dạng và nội dung phong phú, người dân không chỉ được đáp ứng nhu cầu giải trí mà còn được tiếp cận các sản phẩm văn hóa có giá trị tư tưởng, thẩm mỹ và giáo dục.
Thực tiễn tại một số địa phương như phường Vĩnh Phúc và phường Vĩnh Yên (tỉnh Phú Thọ) cho thấy, việc đầu tư thiết chế văn hóa – thể thao cơ sở, đặc biệt là không gian sinh hoạt cộng đồng và trang thiết bị thể thao ngoài trời tại nhà văn hóa thôn, công viên, quảng trường, đã nâng cao hiệu quả hoạt động, tăng cường gắn kết cộng đồng và cải thiện đời sống tinh thần của nhân dân.
Cũng tại Phú Thọ, hàng chục làng văn hóa kiểu mẫu được xây dựng, chủ yếu trong năm 2024, với mức hỗ trợ 15- 20 tỷ đồng mỗi làng. Mục tiêu của chương trình là phát triển đồng bộ hạ tầng, văn hóa và kinh tế, xây dựng thôn, làng trở thành nơi đáng sống, gắn bảo tồn văn hóa với phát triển du lịch, dịch vụ. Chương trình không chỉ góp phần hoàn thiện hạ tầng mà còn nâng cao ý thức người dân trong việc bảo vệ môi trường, xây dựng nếp sống văn minh và được người dân ủng hộ vì được hưởng lợi nhiều từ các công trình văn hóa.
Để tiếp tục bảo đảm quyền văn hóa và thu hẹp khoảng cách hưởng thụ văn hóa, các ngành, địa phương đang triển khai đồng bộ nhiều giải pháp: hoàn thiện chính sách theo hướng lấy người dân làm trung tâm; tăng cường đầu tư cho văn hóa cơ sở; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ; phát huy vai trò của công nghệ số; khuyến khích sự tham gia của toàn xã hội, để nhân dân không chỉ là người thụ hưởng mà còn là chủ thể sáng tạo văn hóa.
Bảo đảm quyền tiếp cận và thụ hưởng văn hóa của nhân dân là nhiệm vụ lâu dài, đòi hỏi sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc./.



