Gỡ điểm nghẽn thể chế cho hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo
Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang trở thành động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế. Tuy nhiên, khi các mô hình kinh doanh số, tài sản số, dữ liệu hay trí tuệ nhân tạo phát triển nhanh hơn khả năng phản ứng của chính sách, nhiều khoảng trống pháp lý cũng bắt đầu xuất hiện.

Điều này đặt ra yêu cầu phải xây dựng một khung pháp lý thích ứng, đủ linh hoạt để mở đường cho đổi mới sáng tạo nhưng vẫn bảo đảm kiểm soát rủi ro và giữ ổn định thị trường.

Đây cũng là vấn đề được ông Ngô Vĩnh Bạch Dương, Viện Nhà nước và Pháp luật, thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam phân tích trong nghiên cứu về khung pháp lý cho hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, lực lượng sản xuất mới và các mô hình kinh doanh mới ở Việt Nam.

Thể chế phải đi trước một bước

Theo phân tích, Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới, khi các động lực tăng trưởng truyền thống như lao động giá rẻ hay khai thác tài nguyên dần bộc lộ giới hạn. Thay vào đó, khoa học công nghệ, dữ liệu, đổi mới sáng tạo, nhân lực chất lượng cao và kinh tế số đang trở thành nền tảng của năng lực cạnh tranh quốc gia.

Ông Ngô Vĩnh Bạch Dương, Viện Nhà nước và Pháp luật.

Trong bối cảnh đó, hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo không còn là khu vực “bổ trợ”, mà đang trở thành một phần quan trọng của nền kinh tế. Những doanh nghiệp công nghệ, nền tảng số, mô hình kinh doanh dựa trên dữ liệu hay trí tuệ nhân tạo chính là lực lượng sản xuất mới của thời kỳ chuyển đổi số.

Nhiều chủ trương lớn của Đảng đã xác lập định hướng này. Nghị quyết 57-NQ/TW xác định phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá quan trọng hàng đầu. Nghị quyết 66-NQ/TW nhấn mạnh yêu cầu đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, xóa bỏ tư duy “không quản được thì cấm”. Nghị quyết 68-NQ/TW tiếp tục khẳng định kinh tế tư nhân là động lực quan trọng của nền kinh tế và là lực lượng tiên phong trong đổi mới sáng tạo.

Theo ông Ngô Vĩnh Bạch Dương, vấn đề hiện nay không nằm ở chỗ Việt Nam thiếu hoàn toàn cơ sở pháp lý. Hiến pháp năm 2013 đã bảo hộ quyền tự do kinh doanh, quyền sở hữu và quyền sở hữu trí tuệ. Nhiều đạo luật như Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Giao dịch điện tử, Luật Sở hữu trí tuệ hay Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đã tạo nền tảng cho hoạt động kinh doanh và giao dịch số.

Tuy nhiên, khoảng cách giữa thực tiễn công nghệ và khả năng thích ứng của pháp luật đang ngày càng rõ nét. Cái mới được khuyến khích về mặt chính sách nhưng khi xuất hiện trong thực tiễn lại thường gặp lúng túng về mặt pháp lý.

Nhiều mô hình mới như tài sản số, nền tảng dữ liệu, AI, fintech hay kinh tế nền tảng không dễ xếp vào các “ô pháp lý” truyền thống. Trong khi pháp luật được thiết kế cho nền kinh tế hữu hình, ổn định và có ranh giới ngành nghề rõ ràng, thì kinh tế số lại vận động theo hướng xuyên biên giới, vô hình hóa và lai ghép đa ngành.

Từ thực tế đó, nghiên cứu cho rằng Việt Nam cần một “khung pháp lý thích ứng”. Đây không phải là một đạo luật mới hay một tầng pháp luật độc lập, mà là cách tổ chức và vận hành hệ thống pháp luật theo hướng linh hoạt hơn, lấy đổi mới sáng tạo và quản trị rủi ro làm trung tâm.

Bốn điểm nghẽn lớn của hệ thống pháp lý

Một trong những điểm nghẽn lớn hiện nay là sự lúng túng trong định danh dữ liệu, tài sản số và sản phẩm trí tuệ số.

Trong nền kinh tế số, dữ liệu ngày càng trở thành nguồn lực sản xuất quan trọng. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành vẫn chủ yếu được xây dựng dựa trên tài sản hữu hình truyền thống. Điều này dẫn tới hàng loạt câu hỏi chưa có lời giải rõ ràng: dữ liệu có phải tài sản hay không, quyền khai thác dữ liệu được xác lập như thế nào, sản phẩm do AI tạo ra được bảo hộ ra sao, hay mô hình AI và dữ liệu huấn luyện cần được điều chỉnh theo cơ chế nào.

Trung tâm đổi mới sáng tạo Công nghiệp 4.0 (IIC) thuộc Trường Quốc tế Miền Đông (Eastern International University) nơi đào tạo nhân lực chất lượng cao. 
Ảnh: TXVN

Theo ông Ngô Vĩnh Bạch Dương, Việt Nam đã có những bước tiến quan trọng với Luật Giao dịch điện tử năm 2023 hay các quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân, an ninh mạng. Tuy nhiên, các quy định này chưa hình thành được một chế định đầy đủ về dữ liệu như một nguồn lực phát triển.

Điểm nghẽn thứ hai nằm ở khó khăn trong nhận diện các mô hình kinh doanh lai ghép.

Các nền tảng số hiện nay thường đồng thời đóng nhiều vai trò: vừa là doanh nghiệp công nghệ, vừa là trung gian kết nối, vừa xử lý dữ liệu, quảng cáo và cung cấp dịch vụ tài chính phụ trợ. Điều này khiến cách quản lý theo ngành nghề truyền thống trở nên thiếu hiệu quả.

Tranh cãi xung quanh việc định danh Uber, Grab là ví dụ điển hình. Nếu các mô hình mới bị buộc phải “mặc” chiếc áo pháp lý cũ không còn phù hợp, doanh nghiệp sẽ hoặc bị kìm hãm phát triển, hoặc phải hoạt động trong vùng xám pháp lý.

Điểm nghẽn thứ ba là cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) còn hẹp và phân tán.

Việc ban hành Nghị định 94/2025/NĐ-CP về cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong lĩnh vực ngân hàng được đánh giá là bước tiến quan trọng. Tuy nhiên, sandbox hiện mới chủ yếu tồn tại theo từng lĩnh vực riêng lẻ, chưa trở thành phương thức quản trị phổ quát cho đổi mới sáng tạo.

Theo ông Ngô Vĩnh Bạch Dương, nếu mỗi ngành tự xây dựng một sandbox riêng, quá trình thử nghiệm sẽ chậm và dễ phát sinh cơ chế xin - cho. Điều cần thiết là một khung nguyên tắc chung để các bộ, ngành có thể triển khai thử nghiệm trên nền tảng thống nhất về điều kiện tham gia, phạm vi thử nghiệm, nghĩa vụ báo cáo và tiêu chí đánh giá.

Điểm nghẽn thứ tư nằm ở việc thiếu cơ chế định hướng dòng vốn vào lực lượng sản xuất mới.

Theo nghiên cứu, cải cách thủ tục hay cắt giảm điều kiện kinh doanh là cần thiết nhưng chưa đủ. Vấn đề quan trọng hơn là sau khi được khơi thông, nguồn lực xã hội sẽ chảy vào đâu.

Nếu vốn tiếp tục đổ mạnh vào đầu cơ tài sản thay vì nghiên cứu phát triển công nghệ, thương mại hóa sáng chế hay phát triển nhân lực chất lượng cao, nền kinh tế khó tạo ra năng lực sản xuất mới thực chất.

Để minh họa cho nguy cơ dòng vốn lệch hướng, ông Ngô Vĩnh Bạch Dương dẫn lại bài học từ Nhật Bản cuối thập niên 1980. Theo đó, sự suy yếu của nhiều tập đoàn công nghệ Nhật Bản không xuất phát từ thiếu năng lực kỹ thuật, mà do dòng vốn xã hội bị hút mạnh vào bong bóng bất động sản. Khi giá đất tăng phi mã, chi phí cơ hội cho đầu tư nghiên cứu và phát triển trở nên quá lớn. Điều này khiến Nhật Bản chậm nhịp trong một số làn sóng công nghệ mới như phần mềm và Internet.

Nghiên cứu cũng nhắc tới trường hợp Songdo của Hàn Quốc, nơi tham vọng xây dựng thành phố thông minh từng bị lấn át bởi logic phát triển bất động sản cao cấp.

Đây cũng là lý do nghiên cứu đề xuất cần phát triển các mô hình nhà ở cho thuê dài hạn tại khu công nghệ cao, trung tâm đổi mới sáng tạo và các đại học nghiên cứu. Cách làm này có thể giúp giảm áp lực sở hữu nhà ở, giảm chi phí sinh hoạt ban đầu và tạo điều kiện để người lao động tập trung nhiều hơn cho học tập, nghiên cứu và khởi nghiệp.

Chuyển từ “cấm - cho phép” sang “thử nghiệm - học hỏi”

Từ các điểm nghẽn nêu trên, nghiên cứu ông Ngô Vĩnh Bạch Dương đề xuất ba định hướng lớn để hoàn thiện khung pháp lý thích ứng.

Thứ nhất là phát triển cơ chế thử nghiệm có kiểm soát thành một phương thức quản trị phổ quát cho đổi mới sáng tạo.

Theo đó, sandbox không nên bị hiểu là “nới lỏng quản lý”, mà là cơ chế cho phép thử nghiệm trong giới hạn rõ ràng về phạm vi, thời gian, quy mô và trách nhiệm pháp lý.

Về lâu dài, Việt Nam có thể nghiên cứu ban hành một nghị định khung hoặc quy định mang tính nguyên tắc chung về sandbox. Văn bản này không cần điều chỉnh chi tiết từng công nghệ, nhưng cần xác lập các tiêu chí chung về lựa chọn mô hình thử nghiệm, bảo vệ người dùng, xử lý rủi ro và đánh giá hiệu quả.

Thứ hai là hoàn thiện cơ sở pháp lý cho dữ liệu và tài sản mới.

Theo nghiên cứu, nếu dữ liệu và tài sản vô hình đang trở thành tư liệu sản xuất mới thì pháp luật cũng phải có năng lực định danh và bảo vệ các nguồn lực này. Việt Nam cần nghiên cứu xây dựng chế định pháp lý đầy đủ hơn về dữ liệu, phân biệt rõ dữ liệu cá nhân, dữ liệu mở, dữ liệu doanh nghiệp hay dữ liệu chiến lược.

Đối với tài sản số, ông Ngô Vĩnh Bạch Dương cho rằng cần thận trọng nhưng không thể kéo dài tình trạng mơ hồ pháp lý. Điều quan trọng là phải phân loại rõ đâu là phương tiện thanh toán, đâu là công cụ đầu tư, đâu là tài sản vô hình hợp pháp và đâu là loại hình cần kiểm soát chặt chẽ do rủi ro rửa tiền hay đầu cơ.

Thứ ba là chuyển từ quản lý theo hình thức pháp lý sang quản lý theo bản chất hoạt động và mức độ rủi ro.

Theo đó, thay vì chỉ hỏi doanh nghiệp thuộc loại hình nào, cơ quan quản lý cần tập trung vào việc doanh nghiệp đang thực hiện hoạt động gì, tạo ra rủi ro gì và tác động đến ai.

Một nền tảng số có thể cùng lúc chịu sự điều chỉnh của pháp luật về cạnh tranh, dữ liệu, bảo vệ người tiêu dùng, thuế và giao dịch điện tử. Tuy nhiên, mức độ nghĩa vụ pháp lý cần được xác định dựa trên quy mô và mức độ rủi ro thực tế, thay vì chỉ dựa trên tên gọi pháp lý.

Nghiên cứu cũng nhấn mạnh yêu cầu tăng cường minh bạch và trách nhiệm giải trình đối với các hệ thống tự động, nhất là khi thuật toán có thể ảnh hưởng tới tín dụng, tuyển dụng, giá dịch vụ hoặc phân phối cơ hội kinh tế.

Theo ông Ngô Vĩnh Bạch Dương, thành công của một khung pháp lý thích ứng không nằm ở số lượng điều luật mới được ban hành, mà ở khả năng tạo ra không gian an toàn để những mô hình chưa từng tồn tại có thể được thử nghiệm, phát triển và quản trị rủi ro hiệu quả.

Điều đó đòi hỏi pháp luật phải có năng lực học hỏi và sửa đổi đủ nhanh; cơ quan quản lý phải có tư duy thích ứng; đồng thời nguồn lực xã hội phải được dẫn dắt vào tri thức, công nghệ và năng lực sản xuất thực thay vì các vòng xoáy đầu cơ ngắn hạn.

Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu phát triển kinh tế số, kinh tế tri thức và hình thành lực lượng sản xuất mới, yêu cầu xây dựng một khung pháp lý thích ứng đang trở thành vấn đề không chỉ của riêng lĩnh vực pháp luật, mà là điều kiện nền tảng cho năng lực cạnh tranh quốc gia trong giai đoạn phát triển tiếp theo.

Tin cùng chuyên mục

Đã đến lúc coi nhà ở xã hội cho thuê là hạ tầng an sinh

Trong cuộc làm việc với Đảng ủy Chính phủ về triển khai Chỉ thị 34 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phát triển nhà ở xã hội trong tình hình mới, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: Chính sách nhà ở trong giai đoạn đoạn mới phải được thiết kế với tư duy mới, tầm nhìn mới, đảm bảo mọi người đều có chỗ ở. Nhà là để ở chứ không phải để kinh doanh, tích sản.

TP Hồ Chí Minh chung tay 'phủ xanh' không gian mạng bằng nội dung tích cực

Ngày 22/5, tại TP Hồ Chí Minh,Cục Phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) tổ chức hội nghị phổ biến Bộ Quy tắc ứng xử văn hóa trên môi trường số, đồng thời phát động sáng kiến “Chung tay xây dựng môi trường văn hóa trên mạng” nhằm lan tỏa nội dung tích cực, xây dựng hệ sinh thái số an toàn, lành mạnh và có trách nhiệm.

Phở Việt Nam chinh phục sinh viên Nhật Bản

Theo phóng viên TTXVN tại Nhật Bản, trong khuôn khổ chương trình khuyến khích sinh viên thưởng thức, tìm hiểu văn hóa ẩm thực thế giới, trường Đại học Ngoại ngữ Kanda (tỉnh Chiba, Nhật Bản) đã đưa món Phở của Việt Nam vào thực đơn ăn trưa trong trường để sinh viên trải nghiệm trong 2 tuần từ ngày 18/5.

Tăng 8% lương hưu và trợ cấp từ ngày 1/7/2026

Từ ngày 1/7/2026, theo Nghị định 162/2026/NĐ-CP ngày 15/5/2026 của Chính phủ, mức lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội tăng thêm 8%. Đặc biệt, Chính phủ nâng mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng lên 3,8 triệu đồng/tháng đối với một số trường hợp có mức hưởng thấp sau khi tăng chung.

Một số nội dung chính trong thư của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhân kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống phòng, chống thiên tai Việt Nam (22/5/1946 - 22/5/2026)

Trong thư gửi nhân kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống phòng, chống thiên tai Việt Nam (22/5/1946 - 22/5/2026), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định: Tám mươi năm qua, kể từ ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 70/SL thành lập Ủy ban Trung ương Hộ đê, công tác phòng, chống thiên tai của nước ta đã không ngừng hoàn thiện, góp phần quan trọng bảo vệ tính mạng, tài sản, cuộc sống bình yên của Nhân dân. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, các cấp, các ngành, lực lượng vũ trang, đội ngũ cán bộ, chuyên gia và Nhân dân cả nước đã không quản hiểm nguy, chủ động phòng ngừa, ứng phó, cứu hộ, cứu nạn, khắc phục hậu quả thiên tai. Những đóng góp to lớn đó luôn được Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta trân trọng, ghi nhận, đánh giá cao. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, thời tiết cực đoan, thiên tai diễn biến ngày càng phức tạp, tôi kêu gọi các cấp ủy Đảng, chính quyền, địa phương và toàn xã hội không ngừng phát huy truyền thống đoàn kết, tiếp tục nâng cao trách nhiệm, đổi mới tư duy, năng lực quản trị rủi ro, ứng dụng khoa học công nghệ, củng cố hệ thống phòng thủ dân sự, tăng cường dự báo, cảnh báo, chủ động phòng ngừa, ứng phó hiệu quả với thiên tai, xây dựng cộng đồng an toàn, nhân ái, kiên cường, vì một Việt Nam phát triển bền vững.

11 nghị quyết của Chính phủ: Cắt giảm chi phí tuân thủ thủ tục hành chính 23 nghìn tỷ đồng mỗi năm

Chỉ trong vòng chưa đầy 1 tháng (kể từ ngày 29/4/2026-18/5/2026), Chính phủ đã ban hành 11 nghị quyết; đồng thời, các bộ đã ban hành các văn bản theo thẩm quyền để đồng bộ với các nghị quyết, bảo đảm cơ bản hoàn thành các chỉ tiêu cốt lõi theo Kết luận số 18-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, trong đó có cắt giảm 54,6% chi phí tuân thủ thủ tục hành chính so với năm 2024. Riêng 11 nghị quyết vừa ban hành sẽ cắt giảm chi phí tuân thủ khoảng 23 nghìn tỷ đồng mỗi năm.

7 nhiệm vụ trọng tâm Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề nghị Đại học Quốc gia Hà Nội tập trung thực hiện

Sáng 16/5/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự và phát biểu tại Lễ kỷ niệm 120 năm Ngày truyền thống (16/5/1906-16/5/2026) và đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhất của Đại học Quốc gia Hà Nội. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề nghị Đại học Quốc gia Hà Nội tập trung thực hiện tốt 7 nhiệm vụ trọng tâm và đề nghị Đại học Quốc gia Hà Nội chủ động phối hợp với các cơ quan chức năng nghiên cứu, đề xuất Bộ Chính trị, Chính phủ những cơ chế, chính sách phát triển đột phá cho Đại học Quốc gia Hà Nội nói riêng và giáo dục đại học Việt Nam nói chung.

Vĩnh Long chăm lo công nhân khu nhà trọ

Chiều tối 21/5, Liên đoàn Lao động tỉnh Vĩnh Long tổ chức Chương trình “Đến với khu nhà trọ công nhân” năm 2026 nhằm chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho đoàn viên, người lao động đang sinh sống tại các khu nhà trọ.