Gỡ “nút thắt” kết nối giao thông Đông Nam Bộ - Bài 4: Tận dụng cơ chế
Thể chế liên kết kinh tế vùng Đông Nam Bộ hiện nay bao gồm chính sách phát triển vùng do Trung ương ban hành, quy hoạch vùng, Hội đồng điều phối vùng, cùng cơ chế, chính sách chung của quốc gia. Tuy nhiên, các cơ chế phối hợp liên vùng vẫn ở mức ban đầu, chưa đủ mạnh để điều hòa hiệu quả giữa các địa phương thành phần sau khi hợp nhất. Việc hợp nhất đơn vị hành chính tạo ra dư địa hợp lực lớn hơn, song cũng đặt ra yêu cầu mới về thiết lập cơ chế quản lý, điều phối chung mang tính thực chất, hiệu quả.

* Cấu trúc không gian phát triển

Khu thương mại tự do Cái Mép Hạ hiện có 4 cảng biển và 4 cảng thủy nội địa đang hoạt động. 
Ảnh: Huỳnh Sơn - TTXVN

Theo dự thảo đánh giá 5 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 - 2030 của Đảng, phát triển kinh tế - xã hội các vùng, liên vùng được đặc biệt quan tâm; từng bước xây dựng các hành lang kinh tế, vùng động lực, cực tăng trưởng nhằm phát huy tiềm năng, lợi thế của từng vùng, từng địa phương. Cơ chế điều phối vùng từng bước được hoàn thiện, vai trò của các hội đồng điều phối vùng được nâng lên, liên kết vùng được thúc đẩy thông qua nhiều dự án có quy mô và tính chất liên vùng.

Tuy nhiên, hệ thống kết cấu hạ tầng vẫn thiếu đồng bộ, mức độ kết nối liên vùng chưa cao, dẫn đến chi phí logistics còn cao so với khu vực và quốc tế. Kết cấu hạ tầng giao thông tại các vùng kinh tế trọng điểm, đô thị lớn chưa theo kịp yêu cầu phát triển nhanh và bền vững. Tăng trưởng và chất lượng tăng trưởng kinh tế của các vùng còn thấp so với mục tiêu đề ra; việc khai thác tiềm năng, lợi thế của từng vùng và từng địa phương chưa tương xứng.

Theo đó, không gian phát triển vẫn còn bị chia cắt theo địa giới hành chính; cơ chế liên kết vùng chưa đi vào thực chất, chưa hình thành được không gian phát triển thống nhất để phân bổ hiệu quả nguồn lực trong vùng. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ các tỉnh, thành phố trong vùng Đông Nam Bộ đều xác định yêu cầu kiến trúc lại không gian phát triển, đặt trong mối liên kết chặt chẽ giữa các địa phương.

Tại Đại hội Đảng bộ TP. Hồ Chí Minh, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh, để xây dựng và phát triển TP. Hồ Chí Minh trở thành trung tâm kinh tế, tài chính, công nghệ, dịch vụ hàng đầu khu vực Đông Nam Á và châu Á, đầu mối lớn về logistics quốc tế, nhiệm vụ quan trọng hàng đầu là hoàn chỉnh quy hoạch, tái kiến trúc không gian phát triển theo tư duy đa cực – tích hợp – kết nối, vận hành theo mô hình quản trị đa trung tâm nhằm phân bổ hợp lý nguồn lực và nâng cao hiệu quả điều hành.

Từ thực tiễn tại địa phương, Phó Bí thư Thường trực Thành ủy TP. Hồ Chí Minh Lê Quốc Phong, cho rằng nhiệm vụ Thành phố đặt ra là tái cấu trúc chuỗi cung ứng hàng hóa – dịch vụ theo hướng đồng bộ, hiện đại; quy hoạch phát triển các khu mậu dịch tự do thế hệ mới; hình thành các trung tâm logistics thông minh, cụm cảng, cảng trung chuyển quốc tế và sân bay hàng hóa, tạo chuỗi logistics hiệu quả mang tính liên vùng.

TP. Hồ Chí Minh xác định tái kiến trúc không gian phát triển theo tư duy đa cực – tích hợp – siêu kết nối; huy động mọi nguồn lực đầu tư xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng phát triển đồng bộ, văn minh, hiện đại; đẩy mạnh phân cấp, ủy quyền, tập trung khai thác hiệu quả nguồn lực đất đai và giá trị tăng thêm từ đất cho đầu tư phát triển hạ tầng.

Trong khi đó, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Đồng Nai cũng xác định, tỉnh cấu trúc lại không gian phát triển làm động lực mới, bảo đảm mục tiêu tăng trưởng hai con số. Đồng Nai huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực để phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội; xây dựng hạ tầng giao thông đa phương thức, kết nối thông suốt nội tỉnh, nội vùng và liên vùng; quy hoạch, đầu tư các hành lang giao thông kết nối khu vực phía Bắc với phía Nam.

Nhiệm vụ trọng tâm của tỉnh Đồng Nai trong 5 năm tới là phát triển dịch vụ với hạt nhân là đô thị dịch vụ tổng hợp sân bay quốc tế Long Thành; đồng thời, hoàn thiện kết cấu hạ tầng chiến lược, đồng bộ, nâng cao tính kết nối đa phương thức; hình thành các trung tâm logistics, thương mại – dịch vụ chất lượng cao.

* Vai trò dẫn dắt của TP. Hồ Chí Minh

Siêu tàu container M/V OOCL SPAIN tại cảng Gemalink (cụm cảng Cái Mép -Thị Vải, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu). 
Ảnh: Huỳnh Sơn - TTXVN

Dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội XIV của Đảng xác định, đẩy mạnh liên kết vùng, nội vùng, mở rộng và tổ chức lại không gian phát triển phù hợp với hệ thống hành chính mới; tăng cường xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông đa phương thức, hạ tầng kinh tế - xã hội chất lượng cao; hoàn thiện cơ chế, chính sách điều phối và quản lý phát triển vùng.

Theo Tiến sĩ Hoàng Văn Tú (Học viện Cán bộ TP. Hồ Chí Minh), quy hoạch vùng Đông Nam Bộ cần được cập nhật để phân định rõ vai trò và lợi thế của từng địa bàn trong không gian phát triển mới. TP. Hồ Chí Minh cần được xác định là trung tâm công nghiệp – tài chính – cảng biển – công nghệ cao của vùng; Đồng Nai giữ vai trò trung tâm logistics và sản xuất công nghiệp; Tây Ninh tập trung phát triển năng lượng tái tạo và kết nối thương mại với Campuchia.

Theo đó, quy hoạch phải chỉ rõ danh mục các dự án hạ tầng liên vùng mang tính “xương sống” như hệ thống vành đai, cao tốc, trung tâm logistics, các trục kết nối cảng biển; được thể chế hóa bằng quyết định của Thủ tướng hoặc quy định của Chính phủ để bảo đảm thực thi thống nhất.

Từ nghiên cứu của mình, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thị Thùy Vinh (Trường Đại học Ngoại thương) cho rằng, vùng Đông Nam Bộ cần xây dựng thể chế quản trị liên kết hiệu quả, với phân vai rõ ràng và một cơ quan điều phối vùng có thực quyền, thay cho mô hình liên kết mang tính hình thức như hiện nay.

Trong triển khai Chương trình hành động Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố, Phó Bí thư Thành ủy TP. Hồ Chí Minh Đặng Minh Thông cho biết, Thành phố sẽ nghiên cứu, đề xuất các cơ chế, chính sách phát huy liên kết vùng, xây dựng chính sách ưu đãi chung, hỗ trợ đầu tư hạ tầng kết nối xuyên địa phương; chú trọng phát triển hài hòa giữa khu vực trung tâm và các khu vực xa trung tâm.

Thành phố phát huy vai trò đầu tàu trong liên kết vùng và cả nước, khai thác lợi thế địa kinh tế để dẫn dắt phát triển hạ tầng, nguồn nhân lực, hạ tầng số; lan tỏa, thúc đẩy phát triển vùng Đông Nam Bộ và Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam; phối hợp giải quyết các thách thức chung về môi trường, biến đổi khí hậu, tài nguyên và quy hoạch.

Là nhà thầu thực hiện nhiều công trình giao thông trọng điểm, ông Phan Hữu Duy Quốc, Chủ tịch HĐQT Tổng công ty Xây dựng số 1 (CC1) cho rằng, TP. Hồ Chí Minh đang tăng tốc đầu tư giao thông với cách làm mới, chú trọng tính kết nối và thông suốt toàn hệ thống ở tầm nhìn cấp vùng.

Theo ông Phan Hữu Duy Quốc, với năng lực quản lý và triển khai các dự án lớn, TP. Hồ Chí Minh có thể đảm nhận vai trò khởi xướng, kết nối và dẫn dắt các dự án liên vùng, như đường Vành đai 4 hay tuyến đường sắt Thủ Thiêm – Long Thành.

UBND TP. Hồ Chí Minh cho biết, Thành phố sẽ khẳng định vai trò nòng cốt trong liên kết vùng Đông Nam Bộ và Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam; chủ động phối hợp xây dựng và vận hành cơ chế điều phối vùng tập trung vào các lĩnh vực quy hoạch, hạ tầng giao thông, logistics, đào tạo nguồn nhân lực và xử lý các vấn đề môi trường liên tỉnh.

Theo Giám đốc Sở Xây dựng TP. Hồ Chí Minh Trần Quang Lâm, Thành phố đã xây dựng đề án lớn để cụ thể hóa quy hoạch vùng Đông Nam Bộ, xác định đây là cực tăng trưởng lớn của cả nước. Khi Trung ương ban hành các nghị quyết trụ cột, ngành giao thông Thành phố đã sớm chuẩn bị hạ tầng khung, gồm hệ thống vành đai, cao tốc và các tuyến metro, trong đó TP. Hồ Chí Minh được giao chủ trì Vành đai 3, Vành đai 4.

Tuy nhiên, để triển khai đồng loạt các dự án hạ tầng quy mô lớn trong thời gian tới, các địa phương trong vùng cần tháo gỡ “điểm nghẽn” về thể chế, tăng trách nhiệm trong tổ chức thực hiện; đồng thời, bài toán nguồn lực đầu tư rất lớn đòi hỏi cách làm mới, hiệu quả hơn nhằm khai thác tối đa tiềm năng, thế mạnh và tạo không gian phát triển mới cho TP. Hồ Chí Minh và toàn vùng./.

Bài cuối: Hoàn thiện thể chế, huy động nguồn lực tổng hợp

Tin liên quan

Bộ trưởng Xây dựng Trần Hồng Minh: Hạ tầng đi trước, tạo thế và lực cho phát triển

Bước sang năm 2026 - năm đầu tổ chức triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026 - 2030, nhiệm vụ đặt ra đối với ngành xây dựng hết sức nặng nề với mục tiêu phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, nhất là hạ tầng giao thông đa phương thức, hạ tầng công nghệ, hạ tầng phục vụ chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số.

Gỡ "nút thắt" kết nối giao thông Đông Nam Bộ - Bài 1: Điểm nghẽn hạ tầng

Đông Nam Bộ là vùng kinh tế năng động bậc nhất cả nước, có nhiều lợi thế về không gian phát triển với hệ thống cảng hàng không quốc tế, cảng biển lớn, mạng lưới giao thông trục Bắc – Nam và đường biên giới dài với nhiều cửa khẩu quốc tế. Trong bối cảnh tình hình mới, nhất là sau khi hợp nhất các địa phương, yêu cầu đầu tư hạ tầng giao thông kết nối vùng Đông Nam Bộ càng trở nên cấp thiết. Đặc biệt, Cảng hàng không quốc tế Long Thành sắp đi vào khai thác, cùng định hướng hình thành Trung tâm Tài chính và Khu thương mại tự do Cái Mép Hạ (TP. Hồ Chí Minh) được kỳ vọng sẽ tạo động lực phát triển mới cho toàn vùng.

Gỡ "nút thắt" kết nối giao thông Đông Nam Bộ - Bài 2: "Đường hướng" sẵn sàng

Nghị quyết Đại hội cũng như Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ các tỉnh Đồng Nai, Tây Ninh và TP. Hồ Chí Minh đều xác định, đầu tư hạ tầng giao thông kết nối liên vùng là một trong những trọng tâm nhằm phát huy thế mạnh của từng địa phương trong tổng thể phát triển vùng Đông Nam Bộ. Định hướng này phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 24-NQ/TW của Bộ Chính trị cũng như dự thảo Văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng.

Gỡ "nút thắt" kết nối giao thông Đông Nam Bộ – Bài 3: San sẻ nguồn lực cùng hành động

Sau khi hợp nhất các đơn vị hành chính, vùng Đông Nam Bộ cần điều chỉnh thể chế và cơ chế điều phối phát triển tương ứng với quy mô mới. Thực tế cho thấy, dù có vị thế kinh tế dẫn đầu cả nước, thể chế liên kết vùng hiện nay vẫn còn nhiều khoảng trống. Để thúc đẩy liên kết nội vùng, cần hoàn thiện thể chế liên kết vùng thông qua quy hoạch chiến lược phát triển chung, cơ chế tài chính chung, đầu tư hạ tầng trọng điểm và nâng cao hiệu lực của Hội đồng điều phối vùng.

Tin cùng chuyên mục

Gỡ "nút thắt" kết nối giao thông Đông Nam Bộ – Bài 3: San sẻ nguồn lực cùng hành động

Sau khi hợp nhất các đơn vị hành chính, vùng Đông Nam Bộ cần điều chỉnh thể chế và cơ chế điều phối phát triển tương ứng với quy mô mới. Thực tế cho thấy, dù có vị thế kinh tế dẫn đầu cả nước, thể chế liên kết vùng hiện nay vẫn còn nhiều khoảng trống. Để thúc đẩy liên kết nội vùng, cần hoàn thiện thể chế liên kết vùng thông qua quy hoạch chiến lược phát triển chung, cơ chế tài chính chung, đầu tư hạ tầng trọng điểm và nâng cao hiệu lực của Hội đồng điều phối vùng.

Gỡ "nút thắt" kết nối giao thông Đông Nam Bộ - Bài 2: "Đường hướng" sẵn sàng

Nghị quyết Đại hội cũng như Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ các tỉnh Đồng Nai, Tây Ninh và TP. Hồ Chí Minh đều xác định, đầu tư hạ tầng giao thông kết nối liên vùng là một trong những trọng tâm nhằm phát huy thế mạnh của từng địa phương trong tổng thể phát triển vùng Đông Nam Bộ. Định hướng này phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 24-NQ/TW của Bộ Chính trị cũng như dự thảo Văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng.

Gỡ "nút thắt" kết nối giao thông Đông Nam Bộ - Bài 1: Điểm nghẽn hạ tầng

Đông Nam Bộ là vùng kinh tế năng động bậc nhất cả nước, có nhiều lợi thế về không gian phát triển với hệ thống cảng hàng không quốc tế, cảng biển lớn, mạng lưới giao thông trục Bắc – Nam và đường biên giới dài với nhiều cửa khẩu quốc tế. Trong bối cảnh tình hình mới, nhất là sau khi hợp nhất các địa phương, yêu cầu đầu tư hạ tầng giao thông kết nối vùng Đông Nam Bộ càng trở nên cấp thiết. Đặc biệt, Cảng hàng không quốc tế Long Thành sắp đi vào khai thác, cùng định hướng hình thành Trung tâm Tài chính và Khu thương mại tự do Cái Mép Hạ (TP. Hồ Chí Minh) được kỳ vọng sẽ tạo động lực phát triển mới cho toàn vùng.

Tái cấu trúc ngành nông nghiệp TP. Hồ Chí Minh - Bài cuối: Phân vùng nông nghiệp, nâng cao giá trị gia tăng

Trong bối cảnh áp lực đô thị hóa vẫn rất lớn, nông nghiệp dễ rơi vào thế yếu nếu thiếu một quy hoạch không gian rõ ràng và cơ chế bảo vệ phù hợp. TP. Hồ Chí Minh đã xác định tái cấu trúc ngành nông nghiệp gắn với quy hoạch lại không gian phát triển theo vùng. Thay vì dàn trải nhiều loại cây, con trên cùng một địa bàn, Thành phố hướng tới phân vùng dựa trên lợi thế từng khu vực, từ điều kiện tự nhiên, hạ tầng đến khả năng kết nối thị trường. Đây được xem là bước đi mang tính chiến lược nhằm giải quyết căn cơ bài toán "đất nhiều nhưng giá trị thấp".

Tái cấu trúc ngành nông nghiệp TP. Hồ Chí Minh - Bài 1: Mở rộng không gian phát triển

Sau hợp nhất 3 địa phương, diện tích đất nông nghiệp của TP. Hồ Chí Minh tăng gấp 4 lần so với diện tích nông nghiệp của Thành phố trước đó. Không gian mở ra mang đến nhiều cơ hội để phát triển ngành nông nghiệp theo hướng hiện đại, chất lượng, giá trị gia tăng cao và gắn với thị trường. Để làm được điều này, Thành phố đã xác định quy hoạch lại không gian phát triển ngành nông nghiệp theo 3 vùng, dựa trên lợi thế của mỗi nơi để phát triển các sản phẩm nông nghiệp phù hợp với điều kiện, lợi thế từng vùng; đồng thời, cũng có các giải pháp phù hợp để kết nối thế mạnh mỗi vùng trong không gian phát triển của ngành nông nghiệp.

Quảng Ninh "bứt phá" để tạo đà cho nhiệm kỳ mới

Với ý nghĩa đặc biệt quan trong là năm "về đích" của kế hoạch 5 năm của nhiệm kỳ 2020 – 2025, đồng thời cũng là năm đầu tiên triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2025 - 2030, tỉnh Quảng Ninh chọn chủ đề công tác năm 2025 là "Bứt phá trong phát triển kinh tế, tạo đà cho nhiệm kỳ mới". Năm 2025, bức tranh phát triển kinh tế xã hội của Quảng Ninh đầy ấn tượng với những con số kỷ lục đạt đỉnh mới.