Hệ sinh thái cho kinh tế tư nhân - Bài cuối: Đột phá ở khâu thực thi
Trong bối cảnh TP. Hồ Chí Minh quyết tâm tăng trưởng 2 con số, cộng đồng doanh nghiệp tại TP. Hồ Chí Minh cho rằng điều quan trọng nhất hiện nay là tháo gỡ các “điểm nghẽn” về vốn, thủ tục và chất lượng thực thi chính sách.
Doanh nghiệp kỳ vọng cải cách sẽ đi vào thực chất; không chỉ “cởi trói” mà còn kiến tạo môi trường kinh doanh minh bạch.
Ảnh minh họa

Trong bối cảnh TP. Hồ Chí Minh quyết tâm tăng trưởng 2 con số, cộng đồng doanh nghiệp tại TP. Hồ Chí Minh cho rằng điều quan trọng nhất hiện nay là tháo gỡ các “điểm nghẽn” về vốn, thủ tục và chất lượng thực thi chính sách. Doanh nghiệp kỳ vọng cải cách sẽ đi vào thực chất; không chỉ “cởi trói” mà còn kiến tạo môi trường kinh doanh minh bạch, thuận lợi hơn để doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ và hộ kinh doanh cùng phát triển.

*Còn nhiều “điểm nghẽn”

Theo tinh thần Nghị quyết 68-NQ/TW,  kinh tế tư nhân đã được “cởi trói”, tư duy quản lý được chuyển hóa từ “không quản được thì cấm” sang kiến tạo phát triển, lấy doanh nghiệp và người dân làm trung tâm. Tuy nhiên, ghi nhận thực tế từ cộng đồng doanh nghiệp, đặc biệt là nhóm doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ và hộ kinh doanh vẫn chưa được như kỳ vọng khi nhiều “điểm nghẽn” trong thực thi chưa được tháo gỡ triệt để.

Khảo sát Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam cho thấy, hơn 60% doanh nghiệp cho biết khó khăn lớn nhất hiện nay là tìm kiếm khách hàng, tăng mạnh so với mức 45,3% của năm trước. Đồng thời, có tới 75,5% doanh nghiệp phản ánh không thể vay vốn nếu thiếu tài sản thế chấp.

Một vấn đề khác được doanh nghiệp nhắc đến là tính bất định của chính sách còn cao. Chỉ khoảng 6 - 8% doanh nghiệp được khảo sát cho biết có thể thường xuyên dự đoán được thay đổi chính sách từ Trung ương, khiến doanh nghiệp e ngại đầu tư dài hạn. Trong khi đó, năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp vẫn còn hạn chế khi chỉ gần 9% doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sản phẩm và khoảng 5,1% doanh nghiệp quy mô vừa và lớn có chi ngân sách cho nghiên cứu và phát triển (R&D).

Đề cập khó khăn lớn nhất của khu vực kinh tế tư nhân hiện nay, ông Trần Việt Anh, Tổng Giám đốc Công ty Nam Thái Sơn cho rằng, vấn đề cốt lõi vẫn là thiếu vốn. Doanh nghiệp nhỏ và vừa gần như không có khả năng tiếp cận các kênh huy động vốn lớn như thị trường trái phiếu hay thị trường vốn quốc tế, trong khi điều kiện vay ngân hàng vẫn còn nhiều rào cản. Vì vậy, cần có cơ chế tháo gỡ về tín dụng, hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận vốn và nâng cao khả năng quản trị dòng tiền để thúc đẩy phát triển.

Đối với doanh nghiệp công nghệ, áp lực về vốn còn lớn hơn do đặc thù phải đầu tư mạnh cho nghiên cứu và phát triển trong giai đoạn đầu. Chia sẻ về thực tế này, ông Lương Việt Quốc, nhà sáng lập kiêm Tổng Giám đốc RealTime Robotics cho biết, dù Thành phố đã có chính sách hỗ trợ 100% lãi suất cho doanh nghiệp công nghệ cao như UAV, doanh nghiệp vẫn khó tiếp cận vốn vì ngân hàng yêu cầu phải có lãi trong nhiều năm.

Theo ông Lương Việt Quốc, startup công nghệ cần cơ chế linh hoạt hơn bởi giai đoạn đầu chủ yếu tập trung cho nghiên cứu phát triển nên chưa thể tạo lợi nhuận ngay. Bên cạnh đó, doanh nghiệp công nghệ còn gặp khó trong nhập khẩu linh kiện, thiết bị phục vụ nghiên cứu do nhiều công nghệ mới chưa nằm trong danh mục được phép nhập khẩu.

Ở góc độ quản lý, nhiều doanh nghiệp phản ánh sự phối hợp giữa các sở, ngành còn chậm, quy trình xử lý hồ sơ kéo dài và tâm lý e ngại trách nhiệm vẫn tồn tại trong một bộ phận cán bộ thực thi. Phản ánh thực tế này, ông Nguyễn Quốc Anh, Chủ tịch Hội Cao su - Nhựa TP. Hồ Chí Minh cho biết, nhiều doanh nghiệp đã nộp hồ sơ tham gia các chương trình hỗ trợ đổi mới công nghệ nhưng quá trình giải ngân còn chậm do hồ sơ phải đi qua nhiều cơ quan khác nhau. Nếu không cải thiện tính liên thông và cơ chế phối hợp, doanh nghiệp sẽ tiếp tục bỏ lỡ cơ hội đầu tư trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng lớn.

Trong khi đó, ông Trần Thành Trọng, Tổng Giám đốc Công ty Sáng Ban Mai, Phó Chủ tịch Hội Doanh nghiệp Cơ khí - Điện TP. Hồ Chí Minh phân tích, khu vực tư nhân tại TP. Hồ Chí Minh đang phát triển tích cực nhưng vẫn tồn tại nhiều điểm nghẽn, đặc biệt với hộ kinh doanh và doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ. Những khó khăn chủ yếu tập trung ở khâu thực thi của đội ngũ cán bộ cơ sở trong thủ tục thuế, hải quan và kiểm tra chuyên ngành.

Nêu thực tế từ cộng đồng doanh nghiệp, ông Trần Thành Trọng cho biết nhiều hộ kinh doanh còn tâm lý e ngại khi thực hiện chính sách mới, nhất là về thuế và thanh toán không dùng tiền mặt. Trong khi doanh nghiệp lớn có tiềm lực tài chính, nhân sự và bộ máy pháp lý để triển khai nhanh các dự án thì doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ lại thiếu khả năng thuê luật sư hoặc xây dựng bộ phận pháp chế riêng.

Vì vậy, theo ông Trần Thành Trọng, cơ quan chức năng cần ưu tiên hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh tiếp cận, thực thi chính sách với lộ trình phù hợp thực tế. Cụ thể, cán bộ quản lý cơ sở cần tăng cường hướng dẫn, đồng hành cùng doanh nghiệp thay vì chỉ tập trung xử phạt để khuyến khích hộ kinh doanh tiếp tục hoạt động và mở rộng sản xuất. Đây chính là cách để “nuôi dưỡng” hộ kinh doanh phát triển lên doanh nghiệp một cách tự nhiên và bền vững.

*Lượng hoá hiệu quả thực thi 

Dù đánh giá cao định hướng của Nghị quyết 68 và các cơ chế đặc thù mới, cộng đồng doanh nghiệp cho rằng điều quan trọng nhất hiện nay là cải thiện chất lượng thực thi. Theo ông Trần Việt Anh, Nghị quyết 68-NQ/TW mang tính bao quát cho kinh tế tư nhân cả nước, song hiệu quả phụ thuộc lớn vào cách vận dụng của từng địa phương. Với TP. Hồ Chí Minh - nơi có hàng trăm nghìn doanh nghiệp và hàng triệu hộ kinh doanh cá thể - việc đưa nghị quyết vào cuộc sống cần gắn với từng cộng đồng doanh nghiệp và từng ngành nghề cụ thể thay vì chỉ dừng ở việc phổ biến chính sách.

Nhấn mạnh việc đo lường hiệu quả thực thi, ông Trần Việt Anh cho rằng điều quan trọng nhất là phải có cải cách thực chất về cơ chế quản lý và môi trường kinh doanh. Nếu không có thay đổi rõ rệt so với trước đây, Nghị quyết 68-NQ/TW sẽ khó phát huy hiệu quả như kỳ vọng. Theo đó, hiệu quả cải cách cần được phản ánh bằng các chỉ số cụ thể như số lượng doanh nghiệp tham gia thị trường, tốc độ tăng trưởng của khu vực tư nhân, số lượng sản phẩm tham gia chuỗi giá trị quốc tế hay tỷ lệ lao động công nghệ số.

Ông Trần Việt Anh cũng đề xuất Thành phố cần tập trung hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân chuyển đổi mô hình phát triển từ cách làm truyền thống với năng suất thấp sang mô hình dựa trên đổi mới sáng tạo và nâng cao năng suất lao động. Trong đó, chính sách hỗ trợ cần gắn với đào tạo nguồn nhân lực, phát triển nhà ở xã hội, y tế, giáo dục và bảo hiểm để cải thiện môi trường sống cho người lao động, đồng thời chú trọng phát triển lực lượng lao động kỹ thuật cao và lao động số.

Đề cập yêu cầu nâng cao hiệu quả điều hành, ông Trần Thành Trọng nhấn mạnh chính quyền cần tiếp tục cải thiện mạnh mẽ công tác điều hành theo hướng nhanh hơn, hiệu quả hơn và đồng bộ hơn nhằm tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp. Đặc biệt, Nghị quyết 68-NQ/TW đã nêu rõ yêu cầu doanh nghiệp lớn phải trở thành đầu tàu, hỗ trợ đào tạo và kéo doanh nghiệp nhỏ tham gia chuỗi giá trị. Tuy nhiên, việc thực hiện và giám sát hiện nay còn hạn chế.

Theo ông Trần Thành Trọng, trong thời gian tới cần có cơ chế giám sát cụ thể hơn đối với các doanh nghiệp lớn được giao thực hiện dự án trọng điểm, bao gồm cam kết về tỷ lệ sử dụng lao động, vật tư và doanh nghiệp trong nước tham gia dự án nhằm tạo hiệu ứng lan tỏa, nâng cao năng lực cho doanh nghiệp nhỏ và thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững cho TP. Hồ Chí Minh.

Trên bình diện chung, ông Nguyễn Ngọc Hòa, Chủ tịch HUBA nhận định, doanh nghiệp TP. Hồ Chí Minh, đặc biệt là khu vực kinh tế tư nhân đang sẵn sàng và có mong muốn đóng góp vào tăng trưởng chung của Thành phố và cả nước. Đến nay, nền tảng chính sách quan trọng đã được hình thành như Nghị quyết 68-NQ/TW, định hướng xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) và các cơ chế thúc đẩy khoa học - công nghệ. Tuy nhiên, nhóm doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ vẫn đang vấp phải những rào cản lớn về công nghệ và vốn nên không tận dụng được các cơ hội tham gia vào chuỗi cung ứng của các dự án, công trình trọng điểm.

Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số, ông Nguyễn Ngọc Hoà nhấn mạnh, TP. Hồ Chí Minh cần chuyển dịch mạnh mẽ từ các chính sách mang tính định hướng sang những giải pháp mang tính thực thi cao. Trong đó, hai mũi nhọn cốt lõi cần tập trung là tháo gỡ bài toán chi phí công nghệ và đa dạng hóa kênh dẫn vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Về khía cạnh khoa học và công nghệ, thay vì buộc các doanh nghiệp nhỏ và vừa phải tự đầu tư một lần, thành phố cần ban hành các chính sách khuyến khích doanh nghiệp công nghệ phát triển hệ sinh thái giải pháp dùng chung. Mô hình thuê và trả phí công nghệ theo tháng, quý hoặc năm sẽ là chìa khóa giúp tối ưu hóa chi phí, giảm thiểu rủi ro và đẩy nhanh tiến trình số hóa diện rộng cho khối tư nhân.

Song song đó, việc tái cấu trúc kênh dẫn vốn cho nền kinh tế là bài toán cấp bách. Bên cạnh chính sách hỗ trợ lãi suất, TP. Hồ Chí Minh cần đẩy nhanh tiến độ hình thành Trung tâm Tài chính Quốc tế (IFC), thiết lập một khung pháp lý đặc thù cho phép các doanh nghiệp nhỏ và vừa gọi vốn trực tiếp với hạn mức linh hoạt. Chỉ khi tháo gỡ được những điểm nghẽn về vốn và công nghệ, doanh nghiệp nhỏ và vừa mới có thể nâng cao năng lực tham gia chuỗi cung ứng, từng bước phát triển và đóng góp nhiều hơn vào mục tiêu tăng trưởng chung của thành phố và cả nước./.

Tin liên quan

Vị thế mới từ những tập đoàn kinh tế mạnh

Nghị quyết 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân ban hành vào tháng 5/2025 đặt mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam có 2 triệu doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế; trong đó, có ít nhất 20 doanh nghiệp lớn tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. Tiếp đó, tại Nghị quyết 79-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước ban hành vào tháng 1/2026 đặt mục tiêu đến năm 2030 phấn đấu có 50 doanh nghiệp nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn Đông Nam Á và từ 1-3 doanh nghiệp nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới.

Để kinh tế tư nhân thực sự là đòn bẩy tăng trưởng

Vừa đúng một năm Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đã công bố Báo cáo Kinh tế Tư nhân Việt Nam (BPI) và Chỉ số Năng lực Cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) năm 2025.

Tin cùng chuyên mục

Khai mạc Lễ hội Kỳ yên Thượng Điền đình Bình Thủy

UBND phường Bình Thủy kết hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành phố Cần Thơ tổ chức Khai mạc Lễ hội Kỳ Yên Thượng Điền góp phần phát huy giá trị di sản văn hóa của địa phương, quảng bá hình ảnh di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia tới nhân dân và du khách.

Hành động vì trẻ em an toàn trong môi trường số

Bộ Y tế phối hợp với UBND tỉnh Quảng Ninh phát động Tháng hành động vì trẻ em năm 2026 với chủ đề “Trẻ em hạnh phúc, an toàn, vững bước trong kỷ nguyên số”. Chương trình kêu gọi các cấp, ngành và toàn xã hội chung tay bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng, trang bị kỹ năng số và kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ em trước các nguy cơ trên không gian mạng.

Quy mô số hộ gia đình đối với thôn, tổ dân phố

Thực hiện Kết luận số 34-KL/TW ngày 18/5/2026 của Bộ Chính trị về sắp xếp thôn, tổ dân phố và bố trí, sử dụng, chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố, ngày 26/5/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 185/2026/NĐ-CP quy định về tổ chức, hoạt động của thôn, tổ dân phố và chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố. Nghị định quy định về quy mô số hộ gia đình: Ở thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh - Thôn phải có từ 500 hộ gia đình trở lên, tổ dân phố phải có từ 700 hộ gia đình trở lên. Ở vùng trung du và miền núi phía Bắc - Thôn phải có từ 150 hộ gia đình trở lên, tổ dân phố phải có từ 300 hộ trở lên. Ở vùng đồng bằng sông Hồng - Thôn phải có từ 400 hộ gia đình trở lên, tổ dân phố phải có từ 550 hộ gia đình trở lên. Ở vùng Bắc Trung bộ - Thôn phải có từ 350 hộ gia đình trở lên, tổ dân phố phải có từ 450 hộ gia đình trở lên...

Chính sách học bổng cho người học các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược

Chính phủ ban hành Nghị định số 179/2026/NĐ-CP ngày 20/5/2026 quy định chính sách học bổng cho người học các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược. Chính sách học bổng quy định tại Nghị định này được áp dụng cho đối tượng tuyển sinh từ năm 2025 trở đi, thời điểm cấp học bổng tính từ ngày 1/9/2026. Theo đó, mức học bổng thấp nhất là 3.700.000 đồng/tháng, cao nhất là 8.400.000 đồng/tháng tùy thuộc trình độ đào tạo và nhóm chương trình, ngành đào tạo.

Tăng cường công tác phòng, chống thiên tai trong thời gian tới

Ngày 25/5/2026, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng ký Chỉ thị số 23/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy mạnh thực hiện Kết luận số 213-KL/TW ngày 21/11/2025 của Ban Bí thư, tăng cường công tác phòng, chống thiên tai trong thời gian tới. Chỉ thị nêu rõ: Để đẩy mạnh thực hiện Kết luận số 213-KL/TW ngày 21/11/2025 của Ban Bí thư, chủ động phòng ngừa, ứng phó thiên tai trong thời gian tới, bảo đảm an toàn tính mạng, hạn chế thấp nhất thiệt hại về tài sản của Nhân dân và Nhà nước, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Bí thư, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố và thủ trưởng các đơn vị có liên quan quán triệt, thực hiện nghiêm Kết luận số 213-KL/TW ngày 21/11/2025 của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 42-CT/TW ngày 24/3/2020 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai và Nghị quyết số 116/NQ-CP ngày 29/4/2026 của Chính phủ về Kế hoạch thực hiện Kết luận số 213-KL/TW ngày 21/11/2025 của Ban Bí thư...