Hợp tác quốc tế - “đòn bẩy” nâng tầm khoa học Việt Nam
Có những cánh cửa không thể mở bằng sức của một người. Có những đỉnh cao không thể chinh phục nếu chỉ đi một mình. Trong khoa học cũng vậy. Muốn bước nhanh hơn, phải biết kết nối. Muốn đi xa hơn, phải biết hợp tác. Đó cũng chính là điều Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhìn thấy từ rất sớm.
Hợp tác quốc tế - “đòn bẩy” nâng tầm khoa học Việt Nam

Ngay trong những năm đầu xây dựng đất nước, Bác nhiều lần căn dặn phải học hỏi thành tựu khoa học, kỹ thuật tiên tiến của nhân loại; đồng thời mở rộng quan hệ hợp tác với bạn bè quốc tế để phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bác căn dặn phải “mở rộng sự hợp tác với các nước anh em trong việc nghiên cứu khoa học, kỹ thuật”. Tư tưởng ấy thể hiện tầm nhìn rộng mở, tinh thần cầu thị và khát vọng đưa Việt Nam bắt nhịp với tiến bộ của thời đại.

Tư tưởng ấy hôm nay vẫn đang soi đường cho sự phát triển của nền khoa học nước nhà.

Đảng và Nhà nước luôn xác định hợp tác quốc tế là một trong những giải pháp quan trọng để phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu mở rộng hợp tác quốc tế, thu hút chuyên gia, nhà khoa học, tập đoàn công nghệ lớn; thúc đẩy chuyển giao công nghệ, tham gia sâu hơn vào mạng lưới đổi mới sáng tạo toàn cầu.

Đó không chỉ là một định hướng phát triển. Đó còn là sự tiếp nối sinh động tư tưởng Hồ Chí Minh trong thời đại mới.

Thực tiễn những năm gần đây cho thấy, hợp tác quốc tế đang trở thành “đòn bẩy” quan trọng đưa khoa học Việt Nam vươn lên. Nhiều viện nghiên cứu, trường đại học đã tham gia các chương trình nghiên cứu chung với đối tác nước ngoài; nhiều nhà khoa học Việt Nam góp mặt trong các dự án quốc tế lớn về y sinh, vật liệu mới, môi trường, trí tuệ nhân tạo, công nghệ vũ trụ.

Như Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam chỉ trong 3 năm từ năm 2023-2025, đã triển khai hơn 100 nhiệm vụ, dự án quốc tế, hình thành hơn 20 nhóm nghiên cứu quốc tế và 10 phòng thí nghiệm liên kết. Đồng thời tổ chức hơn 100 hội nghị, hội thảo và lớp học quốc tế với khoảng 3.000 lượt nhà khoa học tham gia.

Hay như Trung tâm quốc tế Đào tạo-Nghiên cứu Toán học (ICRTM) và Trung tâm Vật lý quốc tế (ICP) đã trở thành những đầu mối kết nối cộng đồng khoa học Việt Nam với các mạng lưới học thuật trong khu vực và trên thế giới. Các chương trình sau đại học, hội nghị chuyên môn và hoạt động trao đổi tại đây mở thêm cơ hội hợp tác cho các nhà khoa học trẻ. Việc UNESCO đồng ý về nguyên tắc tiếp tục bảo trợ hai trung tâm trong giai đoạn 2026-2032 khẳng định một số tổ chức khoa học trong nước đã từng bước đáp ứng các chuẩn mực quốc tế.

Có thể thấy, việc thu hút nguồn lực quốc tế không chỉ dừng ở chuyển giao công nghệ mà còn là cơ hội để đào tạo nhân lực chất lượng cao, hình thành các trung tâm nghiên cứu, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo mang tầm khu vực và quốc tế. Đây chính là con đường để khoa học Việt Nam từng bước nâng cao vị thế, đóng góp nhiều hơn cho sự phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh hôm nay chính là nuôi dưỡng tinh thần cầu thị, chủ động hội nhập, trân trọng tri thức và phát huy sức mạnh của hợp tác quốc tế để đưa khoa học, công nghệ Việt Nam phát triển mạnh mẽ, góp phần đưa đất nước tự tin bước vào kỷ nguyên mới./.

Tin cùng chuyên mục

Đồng hành sẻ chia nỗi đau da cam

Với tinh thần "Chung tay xoa dịu nỗi đau da cam- không để ai bị bỏ lại phía sau", 15 năm qua, Trung tâm Tẩy độc thuộc Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin tỉnh Thái Bình (nay là Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin tỉnh Hưng Yên) đã tẩy độc, góp phần cải thiện sức khỏe cho hàng nghìn nạn nhân da cam.

Điểm tựa của nạn nhân da cam ở Lào Cai

Chiến tranh đã lùi xa hơn nửa thế kỷ, nhưng nhiều nạn nhân chất độc da cam/dioxin tại tỉnh Lào Cai vẫn đang phải gánh chịu nhiều nỗi đau và thiếu thốn vật chất. Thấu hiểu mất mát ấy, tỉnh Lào Cai huy động các nguồn lực giúp đỡ nạn nhân da cam có mái ấm an toàn, giúp họ từng bước vượt qua nghịch cảnh, ổn định cuộc sống.

Vun đắp kiến thức cho học trò nghèo vùng biên Gia Lai

Cứ mỗi dịp hè đến, những người lính mang quân hàm xanh của Đồn Biên phòng Ia Púch, tỉnh Gia Lai lại lặng lẽ hóa thân trở thành những người thầy vun đắp kiến thức cho các em học sinh nghèo vùng biên giới. Đều đặn 5 năm qua, lớp học này luôn là địa chỉ thân thuộc của các em có hoàn cảnh khó khăn, bố mẹ bận mưu sinh, ít có điều kiện kèm cặp. Lớp học giúp các em củng cố kiến thức, duy trì thói quen học tập và vui chơi lành mạnh trong suốt kỳ nghỉ hè.

Lớp học “0 đồng” lan tỏa tri thức trong dịp hè ở Hà Tĩnh

Trong những ngày hè, tại chùa Trung Tâm, tổ dân phố Kỳ Châu, phường Sông Trí, tỉnh Hà Tĩnh, khoảng 80 học sinh có hoàn cảnh khó khăn vẫn đều đặn đến lớp. Bốn lớp học miễn phí được duy trì từ sự chung tay của nhà chùa và các giáo viên trên địa bàn. Những buổi học hè giúp các em củng cố kiến thức, rèn luyện kỹ năng và hình thành những thói quen tích cực trước khi bước vào năm học mới.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Lấy lợi ích và sự hài lòng của Nhân dân làm thước đo cuối cùng

Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV sáng 29/7/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu thiết lập kỷ luật thực thi nghiêm minh; tăng cường kiểm tra, giám sát, thông tin, tuyên truyền và đánh giá bằng dữ liệu, sản phẩm, kết quả thực tế; lấy lợi ích và sự hài lòng của Nhân dân làm thước đo cuối cùng.  

Đến năm 2045, Việt Nam trở thành một trong những trung tâm văn hóa và sáng tạo hàng đầu khu vực

Quyết định số 1306/QĐ-TTg ngày 17/7/2026 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Theo đó, mục tiêu giai đoạn 2026-2030 là mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế về văn hóa với các quốc gia, vùng lãnh thổ, các tổ chức, cơ quan văn hóa, các tập đoàn kinh tế, công nghiệp văn hóa trong khu vực và trên thế giới, tạo xung lực phát triển mới cho các lĩnh vực văn hóa, công nghiệp văn hóa, tập trung vào những lĩnh vực thế mạnh (điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, du lịch văn hóa, di sản...). Tầm nhìn đến năm 2045, Việt Nam trở thành một trong những trung tâm văn hóa và sáng tạo hàng đầu của khu vực; phát triển bứt phá sức mạnh mềm văn hóa dựa trên nền tảng kinh tế số và xã hội số vững chắc; khẳng định vị thế quốc gia có bề dày văn hiến, năng lực và uy tín trong điều hành, tổ chức các sự kiện khu vực và quốc tế, chủ động tham gia định hình xu thế phát triển văn hóa thế giới trong kỷ nguyên mới.

Đổi mới mô hình phát triển Việt Nam: Chuyển từ tư duy quản lý, kiểm soát sang kiến tạo, dẫn dắt phát triển

Để hiện thực hóa khát vọng đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045; xác lập nền tảng cho tầm nhìn 100 năm phát triển tiếp theo của đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng (2030 - 2130), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã ký ban hành Nghị quyết số 19-NQ/TW Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam với 5 quan điểm chỉ đạo. Trong đó quan điểm chỉ đạo thứ năm là: Đổi mới mô hình phát triển được thực hiện đồng bộ, toàn diện và phù hợp với từng giai đoạn; bảo đảm gắn kết hữu cơ các trụ cột phát triển thành một thể thống nhất. Lấy đổi mới thể chế và quản trị quốc gia là khâu đột phá; chuyển từ tư duy quản lý, kiểm soát sang kiến tạo, dẫn dắt phát triển; quản trị theo mục tiêu, không gian phát triển, phối hợp liên thông, dựa trên dữ liệu, phản ứng chính sách và đo lường bằng kết quả, tác động phát triển; lấy hiệu quả điều phối, chất lượng phục vụ nhân dân, doanh nghiệp và năng lực giải quyết vấn đề làm thước đo.