![]() |
| Cộng đồng người Việt tại Belarus họp mặt cộng đồng nhân dịp 80 năm Quốc khánh. (Ảnh: TTXVN phát) |
Trong hành trình phát triển của dân tộc, có những thay đổi chính sách được nhận biết qua những quy định mới, nhưng cũng có những chuyển động sâu sắc hơn, được đánh dấu bằng sự thay đổi trong cách nhìn nhận về con người và nguồn lực phát triển. Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 2/8/2026 của Bộ Chính trị về công tác người Việt Nam ở nước ngoài có thể được nhìn nhận từ chiều sâu ấy.
Sau hơn 20 năm thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài đã phát triển lên hơn 6,5 triệu người tại hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ. Tỷ lệ chuyên gia, trí thức, nhà khoa học, doanh nhân và lao động kỹ thuật cao ngày càng tăng; nhiều người có vị trí quan trọng trong xã hội sở tại. Chính thực tiễn mới ấy đòi hỏi một tư duy mới: Người Việt Nam ở nước ngoài không chỉ là cộng đồng cần được chăm lo, bảo hộ và vận động hướng về quê hương, mà ngày càng trở thành chủ thể tham gia, đối tác đồng hành và nguồn lực chiến lược trong sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc.
Đó có lẽ là một trong những chuyển biến căn bản nhất mà Nghị quyết 23 đặt ra đối với công tác người Việt Nam ở nước ngoài trong kỷ nguyên phát triển mới.
Nền tảng của sự chuyển đổi ấy trước hết nằm ở một quan điểm nhất quán: Dù sinh sống ở đâu, mang những trải nghiệm lịch sử, hoàn cảnh và điều kiện khác nhau, người Việt Nam ở nước ngoài vẫn là một bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam.
Tại cuộc gặp các kiều bào tiêu biểu tham dự Xuân Quê hương 2025 (ngày 19/1/2025), Tổng Bí thư Tô Lâm một lần nữa khẳng định kiều bào và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là “một phần máu thịt không thể tách rời của dân tộc.”
Quan trọng hơn, thông điệp ấy đi liền với một cách tiếp cận mang tính hành động: Tạo những điều kiện thuận lợi hơn để kiều bào về nước sinh sống, đầu tư, hợp tác và cống hiến; hoàn thiện các quy định về đầu tư, quốc tịch, nhà ở, xuất nhập cảnh theo hướng cởi mở, linh hoạt; khuyến khích bà con không chỉ về thăm quê mà còn đóng góp trí tuệ, nguồn lực và kinh nghiệm cho đất nước.
Tinh thần đó được phát triển rõ hơn trong Nghị quyết 23. Ngay trong quan điểm chỉ đạo, Nghị quyết xác định người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam, “là một trong những nguồn lực chiến lược quan trọng”, góp phần nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia; là cầu nối giữa Việt Nam với thế giới; đồng hành và tham gia trực tiếp vào sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc.
![]() |
| Thanh niên Việt Nam tại Osaka thể hiện tình cảm với quê hương. (Ảnh: Nguyễn Tuyến /TTXVN) |
Ở đây có một bước phát triển đáng chú ý về tư duy. Nếu cụm từ “không tách rời” đã khẳng định vị trí của kiều bào trong cộng đồng dân tộc, thì luận điểm “nguồn lực chiến lược”, “đồng hành” và “tham gia trực tiếp” đã xác định vai trò của kiều bào trong tương lai đất nước.
Bởi vậy, Nghị quyết đặt ra yêu cầu chuyển công tác người Việt Nam ở nước ngoài từ tư duy “vận động, tập hợp, chăm lo” sang “đồng hành, kiến tạo cơ chế, huy động nguồn lực”, để cộng đồng tham gia sâu hơn vào hành trình hội nhập, xây dựng và phát triển đất nước.
Sự thay đổi tưởng như chỉ nằm trong một số khái niệm, nhưng thực chất phản ánh một chuyển dịch quan trọng trong quan hệ giữa Nhà nước và cộng đồng: Từ chính sách chủ yếu dành cho kiều bào, tiến tới ngày càng có nhiều chính sách được xây dựng cùng với sự tham gia của kiều bào.
Cơ sở xã hội quan trọng cho bước chuyển ấy chính là sự củng cố của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Trong cuộc gặp Đoàn kiều bào tiêu biểu dịp Xuân Quê hương 2026 (ngày 8/2/2026), Tổng Bí thư Tô Lâm nhận định: “Chưa bao giờ khối đại đoàn kết toàn dân tộc của chúng ta, bao gồm đồng bào ở trong nước và đồng bào ta ở nước ngoài, lại có được sự đồng thuận và được củng cố vững chắc như hiện nay.”
Nhìn rộng hơn, sự đồng thuận ấy không chỉ được tạo nên bởi tình cảm hướng về quê hương. Nó còn được bồi đắp bởi sự phát triển của đất nước, vị thế quốc tế ngày càng được nâng cao, những thay đổi về chính sách đối với kiều bào và đặc biệt là sự mở rộng không gian để người Việt Nam ở nước ngoài tham gia vào công việc chung của quốc gia.
![]() |
| Tổng Bí thư Tô Lâm gặp mặt Đoàn kiều bào tiêu biểu tham dự Chương trình Xuân Quê hương 2026 trong chiều 8/2/2026. (Ảnh: An Đăng/TTXVN) |
Nghị quyết 23 vì thế tiếp tục nhấn mạnh đại đoàn kết, hòa hợp dân tộc; tôn trọng những ý kiến đóng góp xây dựng, kể cả những quan điểm khác biệt nhưng không phương hại đến lợi ích quốc gia-dân tộc; xóa bỏ định kiến, gác lại quá khứ, hướng tới tương lai.
Đây là cách tiếp cận có ý nghĩa đặc biệt. Đại đoàn kết trong bối cảnh mới không đồng nghĩa với việc mọi người phải có cùng một trải nghiệm, hoàn cảnh hay cách nhìn. Điểm gặp nhau lớn nhất chính là ý thức dân tộc, lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc và khát vọng xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc. Khi lợi ích quốc gia-dân tộc trở thành mẫu số chung, những khoảng cách do lịch sử, địa lý hay thế hệ có thể từng bước được thu hẹp.
Có những thời điểm, một hình ảnh có sức truyền tải mạnh mẽ hơn nhiều lời diễn giải. Lần đầu tiên, những đại diện ưu tú của người Việt Nam ở nước ngoài tham gia Khối diễu hành kiều bào trong lễ kỷ niệm ngày 30/4 tại khu vực Dinh Độc Lập và trên Quảng trường Ba Đình lịch sử dịp Quốc khánh 2/9/2025.
Những hình ảnh ấy là minh chứng sinh động cho chân lý “nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một,” tất cả người Việt đều là con Rồng, cháu Tiên”. Đằng sau những bước chân trong đội hình diễu hành là một thông điệp lớn hơn.
![]() |
| Khối Kiều bào Việt Nam. (Ảnh: Phạm Kiên/TTXVN) |
Từ những con người sinh sống cách Tổ quốc hàng nghìn cây số, những thế hệ đã lập nghiệp nhiều thập niên ở nước ngoài đến những người Việt trẻ sinh ra và trưởng thành trong những nền văn hóa khác, tất cả có thể cùng trở về đứng trong một đội hình chung của dân tộc. Đó không đơn thuần là sự hiện diện mang tính nghi lễ. Nó biểu tượng cho một quá trình dài hòa hợp và gắn kết, trong đó khái niệm “đồng bào” ngày càng vượt qua những đường biên địa lý.
Và cũng chính từ nền tảng đó, Nghị quyết 23 đưa đại đoàn kết đi thêm một bước: từ gắn kết tình cảm đến gắn kết trách nhiệm và hành động. Nghị quyết yêu cầu hoàn thiện cơ chế để người Việt Nam ở nước ngoài tham gia tích cực, có trách nhiệm vào đời sống chính trị-kinh tế-xã hội của đất nước; đóng góp ý kiến xây dựng chủ trương, đường lối, chính sách; tham gia các chương trình, dự án phát triển kinh tế-xã hội, khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Như vậy, “trở về” trong tư duy mới không nhất thiết chỉ là trở về về mặt địa lý. Một nhà khoa học có thể đóng góp cho một dự án trong nước từ phòng thí nghiệm ở nước ngoài; một doanh nhân có thể kết nối doanh nghiệp Việt Nam vào chuỗi cung ứng quốc tế; một chuyên gia công nghệ có thể tư vấn từ xa; một người Việt trẻ có thể lan tỏa văn hóa Việt trên nền tảng số toàn cầu.
Dòng chảy hướng về Tổ quốc là điều không thể đảo ngược. Chính ở đây có thể nhận thấy chiều sâu của khái niệm “nguồn lực chiến lược” mà Nghị quyết 23 sử dụng. Nguồn lực kiều bào ngày nay không thể chỉ đo bằng lượng kiều hối hay số dự án đầu tư. Đó còn là nguồn vốn tri thức, công nghệ, kinh nghiệm quản trị, mạng lưới kinh doanh, quan hệ quốc tế, năng lực đổi mới sáng tạo và sức mạnh văn hóa.
Nghị quyết đặc biệt đặt vấn đề thu hút, kết nối chuyên gia, trí thức, nhà khoa học và nhân tài người Việt Nam ở nước ngoài trong những lĩnh vực mang tính quyết định đối với năng lực cạnh tranh quốc gia như đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo và công nghệ sinh học. Đồng thời, kiều bào được khuyến khích trở thành những mắt xích kết nối đầu tư, sản xuất, kinh doanh, chuyển giao công nghệ, chuỗi cung ứng, hệ sinh thái khởi nghiệp và thị trường quốc tế.
![]() |
| Ông Nguyễn Minh Tuấn (trái), Phó Chủ tịch Hội Doanh nhân Việt Nam tại Pháp, tại hội thảo “Việt Nam ngày nay” do ABVietFrance phối hợp với EDHEC Business School tổ chức tại thành phố Lille. (Ảnh: Hữu Chiến/TTXVN) |
Thực tế, nhiều chuyên gia, nhà khoa học và doanh nhân kiều bào đã đóng góp trong khoa học-công nghệ, giáo dục-đào tạo, đầu tư, thương mại và quảng bá hình ảnh đất nước. Nhiều người bền bỉ dạy tiếng Việt, gìn giữ văn hóa cho các thế hệ sinh ra ở nước ngoài; nhiều cộng đồng luôn hướng về đồng bào trong nước mỗi khi thiên tai, khó khăn.
Nhưng nguồn lực ấy còn có một tầng ý nghĩa khác: sức mạnh mềm Việt Nam.
Mỗi người Việt Nam thành đạt, hội nhập và được tôn trọng ở nước sở tại có thể là một “đại sứ” của hình ảnh Việt Nam. Mỗi lớp học tiếng Việt, lễ hội Việt Nam, nhà hàng Việt, sản phẩm Việt, nhà khoa học hay nghệ sĩ gốc Việt được thế giới biết đến đều có thể trở thành một điểm kết nối giữa Việt Nam với cộng đồng quốc tế.
Nghị quyết 23 vì vậy xác định việc phát huy vai trò “đại sứ văn hóa”, “đại sứ hữu nghị” của người Việt Nam ở nước ngoài; đồng thời dành riêng một nhiệm vụ cho “phát huy vai trò chủ thể của người Việt Nam ở nước ngoài trong công tác thông tin, tuyên truyền.”
Đó là một tư duy đáng chú ý: Kiều bào không còn chỉ là đối tượng tiếp nhận thông tin về đất nước, mà có thể trở thành chủ thể kể câu chuyện Việt Nam với thế giới.
Từ kinh tế đến tri thức, từ khoa học-công nghệ đến văn hóa, từ những chuyến trở về quê hương đến những kết nối được thực hiện từ bên kia bán cầu, một dòng chảy hướng về Tổ quốc đang ngày càng mạnh mẽ. Có thể coi đó là một xu thế mang tính tất yếu và khó đảo ngược, bởi nó được thúc đẩy đồng thời bởi sự lớn mạnh của đất nước, nhu cầu tìm về cội nguồn của các thế hệ người Việt và những cơ chế ngày càng rộng mở cho sự tham gia thực chất của kiều bào.
Dòng chảy ấy cũng là câu trả lời thuyết phục trước những định kiến hẹp hòi, những cách nhìn còn bị níu giữ bởi quá khứ hay những mưu đồ lợi dụng khác biệt để chia rẽ cộng đồng. Nghị quyết 23 không phủ nhận những vấn đề còn tồn tại; ngược lại, yêu cầu chủ động đấu tranh với việc lợi dụng công tác người Việt Nam ở nước ngoài để gây chia rẽ, phương hại lợi ích quốc gia-dân tộc. Nhưng nền tảng của chính sách vẫn là đại đoàn kết, hòa hợp, đối thoại, tôn trọng và hướng tới tương lai.
Hơn 6,5 triệu người Việt Nam ở nước ngoài không phải là một cộng đồng đứng ngoài hành trình phát triển của Việt Nam. Họ đang ngày càng trở thành một phần của chính hành trình ấy.
![]() |
| Tiết mục văn nghệ do thiếu nhi người Việt sống tại Buldapest Hungary biểu diễn. (Ảnh: TTXVN phát) |
Bởi vậy, giá trị sâu xa của Nghị quyết 23 có lẽ không chỉ nằm ở những cơ chế mới để thu hút thêm vốn, trí tuệ hay công nghệ. Quan trọng hơn là sự thay đổi vị thế của kiều bào trong tư duy phát triển quốc gia: Từ đối tượng của chính sách trở thành chủ thể tham gia; từ nguồn lực cần vận động trở thành đối tác cần đồng hành; từ cộng đồng người Việt sống bên ngoài biên giới trở thành một thành tố của sức mạnh Việt Nam toàn cầu.
Khi hàng triệu trái tim Việt Nam, dù ở trong hay ngoài nước, có thể cùng hướng về một khát vọng phát triển chung, khoảng cách địa lý không còn là giới hạn của sức mạnh dân tộc.
Và khi kiều bào thực sự trở thành “chủ thể”, khối đại đoàn kết toàn dân tộc cũng được mở rộng thành một nguồn lực phát triển mới: Nguồn lực của một Việt Nam kết nối với thế giới nhưng luôn gắn với cội nguồn; hội nhập sâu rộng nhưng vẫn giữ bản sắc; và tập hợp sức mạnh của người Việt ở khắp 5 châu cho mục tiêu xây dựng một đất nước phồn vinh, văn minh, hạnh phúc./.






