Kinh tế số: Giải phóng nguồn lực, bứt tốc tăng trưởng
Nghị quyết 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã thiết lập mục tiêu: Kinh tế số phải chiếm tối thiểu 30% GDP vào năm 2030. Con số này không chỉ là một chỉ tiêu thống kê, mà là "mệnh lệnh" hành động để Việt Nam bứt phá khỏi bẫy thu nhập trung bình. Diễn đàn Kinh doanh 2026 do Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổ chức chiều 14/8 tại Hà Nội đã trở thành tâm điểm chú ý khi tập trung vào chủ đề: "Tháo gỡ điểm nghẽn, đưa kinh tế số thành động lực tăng trưởng trong kỷ nguyên phát triển mới".
Phó Chủ tịch VCCI Bùi Trung Nghĩa cho rằng, kinh tế số không chỉ là ứng dụng công nghệ vào hoạt động sản xuất kinh doanh mà là một hệ sinh thái mới dựa trên dữ liệu, nền tảng số, trí tuệ nhân tạo và tốc độ đổi mới sáng tạo. Ảnh: Ngọc Quỳnh/Bnews/vnanet.vn


Tại sự kiện, Phó Chủ tịch VCCI Bùi Trung Nghĩa cho biết, nhìn lại chặng đường vừa qua, nền kinh tế Việt Nam tự hào khi tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP năm 2025 ước đạt 14,02%, tương đương khoảng 72,1 tỉ USD, tăng 1,64 lần so với năm 2020. Tốc độ tăng trưởng của khu vực này luôn vượt mức tăng GDP chung, đưa Việt Nam vươn lên vị trí thứ hai tại Đông Nam Á về tốc độ phát triển kinh tế số.

Theo GS.TS Tô Trung Thành, Phó Giám đốc Đại học Kinh tế Quốc dân, kinh tế số không chỉ là ứng dụng công nghệ, mà là quá trình tái cấu trúc mô hình tăng trưởng. Dữ liệu, nền tảng số và tri thức sẽ dần trở thành những tài sản cốt lõi của doanh nghiệp, tạo ra giá trị và năng suất mới cho nền kinh tế. Nếu chỉ dừng lại ở việc áp dụng vài phần mềm cơ bản hay bán hàng trên sàn thương mại điện tử, Việt Nam sẽ lỡ mất cơ hội "hóa rồng" thực sự.

Tại sự kiện, nhiều đại diện doanh nghiệp SMEs chia sẻ những thách thức khi muốn đầu tư bài bản cho chuyển đổi số nhưng lại vướng bài toán dòng tiền.

Phó Chủ tịch VCCI Bùi Trung Nghĩa đã chỉ rõ "hạn chế về nguồn lực tài chính khiến nhiều doanh nghiệp khó đầu tư máy móc, công nghệ, phần mềm quản trị, dữ liệu số, bảo mật, tự động hóa, thương mại điện tử, truy xuất nguồn gốc và ứng dụng trí tuệ nhân tạo. Bên cạnh nguồn lực nội tại, một "hòn đá tảng" khác chính là những điểm nghẽn thể chế. Sự tiến hóa vũ bão của công nghệ luôn đi trước hành lang pháp lý, khiến nhiều mô hình kinh doanh mới ra đời nhưng lại vướng phải "vòng kim cô" của những quy định cũ.

Ông Nguyễn Hoa Cương, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược, đã nhấn mạnh yêu cầu cấp bách, ưu tiên hoàn thiện khung pháp lý, mở rộng cơ chế thử nghiệm (sandbox) đối với các lĩnh vực mới như trí tuệ nhân tạo (AI), blockchain, dữ liệu mở và tài sản số, đồng thời thu hẹp khoảng cách giữa chính sách và thực tiễn. Chỉ khi nào thể chế thực sự "cởi trói", doanh nghiệp mới dám mạnh dạn dấn thân và sáng tạo.

Để hiện thực hóa mục tiêu 30% GDP từ kinh tế số vào năm 2030, nền kinh tế cần một chiến lược hành động quyết liệt và đồng bộ.

Diễn đàn kinh doanh 2026: Đưa kinh tế số trở thành động lực đạt mục tiêu 30% GDP. Ảnh: Ngọc Quỳnh/Bnews/vnanet.vn

Từ góc độ thực tiễn, việc phổ cập công nghệ không nên chỉ gói gọn trong giới công nghệ thông tin. Ông Nguyễn Nhật Quang, Viện trưởng Viện Khoa học Công nghệ (VINASA), đã chỉ ra một hướng đi mang tính chiến lược, dư địa tăng trưởng lớn nhất nằm ở việc đưa AI và công nghệ số vào các ngành kinh tế truyền thống như nông nghiệp, công nghiệp, logistics và dịch vụ, qua đó nâng cao năng suất và giá trị gia tăng thay vì chỉ tập trung phát triển các sản phẩm công nghệ.

Bên cạnh đó, việc xây dựng và đưa vào sử dụng tối thiểu 5 sàn dữ liệu, cùng việc hỗ trợ 500.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi số như mục tiêu Chương trình phát triển kinh tế số giai đoạn 2026 - 2030 đề ra, sẽ là những "cú hích" thiết thực nhất.

Kỷ nguyên phát triển mới không có chỗ cho sự chần chừ. Như lời ông Bùi Trung Nghĩa khẳng định, kinh tế số đang hiện diện ở tất cả các lĩnh vực, cơ sở phát triển kinh tế số đang ở ngay trước mắt nhưng để nắm bắt được, toàn hệ thống chính trị cần phải cùng nhau hành động - nhanh hơn, quyết định hơn và sáng tạo hơn. Chỉ khi tháo gỡ được những "điểm nghẽn" về thể chế, hạ tầng và nguồn lực, trao cho doanh nghiệp một môi trường minh bạch để phát huy tối đa năng lực đổi mới sáng tạo, Việt Nam mới thực sự biến kinh tế số thành động lực để bứt phá tăng trưởng hai con số, đưa đất nước tự tin tiến vào kỷ nguyên thịnh vượng./.


Tin liên quan

Nghị quyết 57-NQ/TW: Tạo động lực phát triển kinh tế số

Tỉnh Đồng Tháp đã và đang triển khai sâu rộng Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số nhằm tạo động lực phát triển kinh tế của địa phương.

Nghị quyết 57: Chuyển nguồn lực thành kết quả cụ thể

Năm 2026, khoảng 95.000 tỷ đồng, tương đương 3% tổng chi ngân sách nhà nước, được dành cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Khi nguồn lực đã được tăng cường, yêu cầu đặt ra trong thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW là khắc phục điểm nghẽn trong tổ chức thực hiện, đưa đầu tư thành công nghệ, sản phẩm và những kết quả cụ thể.

Ba tầng ý nghĩa quan trọng của Nghị quyết 23-NQ/TW

“Là một người Việt Nam đã sinh sống, học tập và làm việc gần 2 thập kỷ tại Trung Quốc, tôi đặc biệt hoan nghênh và đánh giá cao tầm nhìn chiến lược của Nghị quyết số 23-NQ/TW vừa được Bộ Chính trị ban hành. Văn kiện này không chỉ đơn thuần là sự điều chỉnh chính sách, mà còn phản ánh một sự chuyển biến sâu sắc trong tư duy về công tác người Việt Nam ở nước ngoài, từ tiếp cận mang tính vận động, tập hợp sang triết lý đồng hành, kiến tạo và khơi thông nguồn lực”. Đây là chia sẻ của Tiến sĩ Phạm Thị Thanh Loan, Tổng Giám đốc Công ty TNHH Du lịch và Thương mại Dịch vụ Việt - Việt Quảng Đông khi trao đổi với phóng viên TTXVN tại Trung Quốc về những điểm mới của Nghị quyết số 23-NQ/TW của Bộ Chính trị về công tác người Việt Nam ở nước ngoài.

Tin cùng chuyên mục

Phát triển điện khí LNG: Bảo đảm an ninh năng lượng cho tăng trưởng hai con số

Ngày 14/8, tại thành phố Đà Nẵng, Bộ Công Thương đã tổ chức Hội thảo quốc gia với chủ đề “Phát triển điện khí LNG: Bảo đảm an ninh năng lượng cho tăng trưởng hai con số”, thu hút hơn 200 đại biểu, chuyên gia tham dự. Hội thảo tập trung vào việc thảo luận các giải pháp hoàn thiện cơ chế, chính sách và huy động nguồn lực nhằm thúc đẩy phát triển điện khí LNG, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia phục vụ mục tiêu tăng trưởng kinh tế bền vững.

Nghị quyết 68-NQ/TW: Năm giải pháp để kinh tế tư nhân bứt phá

Ban Thường vụ Thành ủy Cần Thơ vừa ban hành Chỉ thị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với việc thực hiện Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân trên địa bàn thành phố Cần Thơ. Chỉ thị đặt mục tiêu tạo chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức và hành động của cả hệ thống chính trị, thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển nhanh, bền vững, thực sự trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế địa phương.

Ba tầng ý nghĩa quan trọng của Nghị quyết 23-NQ/TW

“Là một người Việt Nam đã sinh sống, học tập và làm việc gần 2 thập kỷ tại Trung Quốc, tôi đặc biệt hoan nghênh và đánh giá cao tầm nhìn chiến lược của Nghị quyết số 23-NQ/TW vừa được Bộ Chính trị ban hành. Văn kiện này không chỉ đơn thuần là sự điều chỉnh chính sách, mà còn phản ánh một sự chuyển biến sâu sắc trong tư duy về công tác người Việt Nam ở nước ngoài, từ tiếp cận mang tính vận động, tập hợp sang triết lý đồng hành, kiến tạo và khơi thông nguồn lực”. Đây là chia sẻ của Tiến sĩ Phạm Thị Thanh Loan, Tổng Giám đốc Công ty TNHH Du lịch và Thương mại Dịch vụ Việt - Việt Quảng Đông khi trao đổi với phóng viên TTXVN tại Trung Quốc về những điểm mới của Nghị quyết số 23-NQ/TW của Bộ Chính trị về công tác người Việt Nam ở nước ngoài.

Nước rút hoàn thiện xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai

Thời điểm này, các tỉnh thành đang trong giai đoạn nước rút hoàn thành việc xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai. Nhiều địa phương đã phát động những chiến dịch cao điểm, làm ngày đêm không kể ngày nghỉ để đạt được những con số tích cực. Tuy nhiên, khối lượng công việc còn lại vẫn khá lớn.

Thực hiện tốt BHXH - Giữ chân người lao động

Trong thị trường lao động ngày càng cạnh tranh, thu nhập không còn là yếu tố duy nhất quyết định việc người lao động lựa chọn và gắn bó với một doanh nghiệp. Việc làm ổn định, môi trường làm việc an toàn và đặc biệt là các quyền lợi về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp đang trở thành một phần quan trọng của giá trị việc làm.