![]() |
| Giàn khoan khai thác dầu khí của Petrovietnam. Ảnh: Minh Trang/Bnews/vnanet.vn |
*Lần đầu tiên luật hóa CCS trong lĩnh vực dầu khí
Theo Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng, lần đầu tiên, khung pháp lý cho hoạt động CCS và phát triển năng lượng ngoài khơi được đưa vào Luật Dầu khí (sửa đổi) (Chương VIII và IX) nhằm hình thành các khuôn khổ pháp lý trong quá trình dịch chuyển năng lượng và giảm phát thải, đồng thời tận dụng tối đa tài nguyên dữ liệu, công trình hạ tầng dầu khí đã đầu tư.
Nếu được tận dụng và phát triển tốt, thị trường này có thể trở thành hoạt động dịch vụ của Việt Nam đối với khu vực Đông Nam Á, ước tính đạt giá trị khoảng 40 tỷ USD. Hiện Tập đoàn Công nghiệp-Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) đang hợp tác với các đối tác Nhật Bản nghiên cứu thử nghiệm nhốt giữ CO2 tại khu vực Bắc Bộ.
Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng cũng cho rằng việc phát triển năng lượng ngoài khơi gắn với hoạt động dầu khí có ý nghĩa quan trọng trong phát triển chuỗi giá trị dầu khí, tiết kiệm tài nguyên và nâng cao hiệu quả khai thác dầu khí. Các dự án khai thác dầu khí cũng là những công trình sử dụng năng lượng rất lớn, việc tích hợp năng lượng tái tạo phục vụ tại chỗ, kết hợp sử dụng hạ tầng các công trình dầu khí hiện hữu (đường ống, giàn khoan) tiến tới điện phân hydrogen đưa vào bờ là hướng đi rất mới và tiến bộ, giúp thúc đẩy lộ trình dịch chuyển năng lượng và giảm phát thải.
Cùng quan điểm này, Tiến sĩ Dư Văn Toán, Viện Khoa học Khí tượng Thủy Văn, Môi trường và Biển - Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết, với Luật Dầu khí (sửa đổi) năm 2026, nhà nước khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước nghiên cứu, đầu tư các dự án CCS; khuyến khích tận dụng dữ liệu điều tra dầu khí, hạ tầng và các công trình của những mỏ dầu khí hiện hữu để phục vụ lưu trữ CO2.
Luật Dầu khí (sửa đổi) lần này cũng quy định tương đối đầy đủ trình tự triển khai dự án CCS, từ đánh giá địa chất, lập kế hoạch phát triển, xây dựng hạ tầng, vận hành, giám sát cho đến đóng công trình và bàn giao. Đồng thời, nhà thầu được phép tích hợp hoạt động CCS vào hợp đồng dầu khí hiện hữu, được thu hồi chi phí đầu tư, sở hữu và giao dịch tín chỉ carbon theo quy định của pháp luật.
Trong khi đó, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thế Vinh - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Mỏ - Địa chất cho biết CCS không chỉ mở ra một lĩnh vực đầu tư mới mà còn là nền tảng công nghệ quan trọng để ngành dầu khí chuyển dịch theo hướng phát triển carbon thấp, phát huy giá trị của hạ tầng hiện có và góp phần thực hiện mục tiêu phát thải ròng bằng 0 của Việt Nam. Việc luật hóa CCS sẽ tạo cơ sở pháp lý để thu hút đầu tư, thúc đẩy nghiên cứu, triển khai các dự án và từng bước hình thành các chuỗi giá trị mới phục vụ mục tiêu chuyển dịch năng lượng.
*Tiếp tục hoàn thiện khung khổ pháp lý đồng bộ
![]() |
| Tiến sỹ Dư Văn Toán (Viện Khoa học Khí tượng Thủy Văn, Môi trường và Biển - Bộ Nông nghiệp và Môi trường). Ảnh: A.N/Bnews/vnanet.vn |
Tiến sĩ Dư Văn Toán, Viện Khoa học Khí tượng Thủy Văn, Môi trường và Biển - Bộ Nông nghiệp và Môi trường, mặc dù Luật Dầu khí (sửa đổi) năm 2026 đã có bước tiến quan trọng khi lần đầu tiên luật hóa hoạt động CCS trong lĩnh vực dầu khí nhưng để công nghệ CCS thực sự đi vào cuộc sống và hình thành các dự án thương mại, cần tiếp tục hoàn thiện nhiều quy định về quyền khai thác, cơ chế đầu tư, quản lý rủi ro cũng như kết nối với thị trường carbon.
“Nếu Luật Dầu khí chỉ quy định CCS ở mức nguyên tắc mà chưa giải quyết được các vấn đề về trách nhiệm dài hạn, mô hình doanh thu và phân bổ rủi ro thì rất khó hình thành các dự án thương mại có quy mô lớn”, Tiến sĩ Dư Văn Toán chỉ rõ.
Bên cạnh đó, cơ chế ưu đãi đầu tư cũng cần được thiết kế phù hợp bởi CCS là lĩnh vực có suất đầu tư rất lớn, thời gian hoàn vốn dài và lợi nhuận ban đầu không cao. Các chính sách về thuế, tiền thuê khu vực biển, tiền thuê đáy biển, không gian biển, ưu đãi tín dụng hay chia sẻ rủi ro sẽ góp phần tạo động lực để doanh nghiệp tham gia đầu tư.
Ngoài ra, việc xây dựng cơ chế ưu đãi cho CCS cũng cần đặt trong mối liên hệ với sự hình thành thị trường carbon tại Việt Nam. Khi hệ thống trao đổi hạn ngạch phát thải và sàn giao dịch carbon vận hành ổn định, lượng CO2 được thu giữ và lưu trữ sẽ không chỉ giúp doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu giảm phát thải mà còn tạo thêm nguồn thu thông qua tín chỉ carbon. Đây sẽ là yếu tố quan trọng giúp cải thiện hiệu quả tài chính của các dự án CCS, Tiến sĩ Dư Văn Toán nhấn mạnh.
Đồng quan điểm này, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thế Vinh cho biết, Luật Dầu khí (sửa đổi) năm 2026 quy định các nguyên tắc và cơ chế quản lý chung về hoạt động CCS, còn các tiêu chuẩn kỹ thuật cụ thể nên giao Chính phủ và các bộ, ngành hướng dẫn nhằm bảo đảm tính linh hoạt, phù hợp với sự phát triển nhanh của công nghệ.
Trong khi đó, Đại biểu Quốc hội Lê Ngọc Sơn, Chủ tịch Hội đồng Thành viên Petrovietnam, Luật Dầu khí (sửa đổi) mở rộng không gian phát triển cho ngành dầu khí từ chính nền tảng mà ngành đã tích lũy qua nhiều thập kỷ. Đây là cơ sở để Petrovietnam phát huy vai trò nòng cốt, dẫn dắt, chuyển hóa những nền tảng này thành năng lực tham gia các chuỗi giá trị năng lượng mới, nhất là năng lượng ngoài khơi và CCS. Tuy nhiên, với CCS, Luật Dầu khí (sửa đổi) là bước mở đầu quan trọng về thể chế; về lâu dài vẫn cần tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý đồng bộ cho toàn bộ chuỗi giá trị, Đại biểu Quốc hội, Chủ tịch Petrovietnam Lê Ngọc Sơn nhấn mạnh./.


