Mở hướng sinh kế mới ở xã biên giới Lũng Cú từ mô hình đảng viên đi trước
Những mô hình bước đầu đang mở thêm hướng giảm nghèo cho địa phương nơi cực Bắc Tổ quốc.
Một góc Lũng Cú (Tuyên Quang).
Ảnh: Trọng Đạt - TTXVN

Trên vùng cao nguyên đá khắc nghiệt, nơi đất sản xuất ít, nước sinh hoạt còn thiếu, xã biên giới Lũng Cú, tỉnh Tuyên Quang đang lựa chọn cách làm cụ thể để tạo sinh kế cho người dân: cán bộ, đảng viên đi trước xây dựng mô hình, người dân cùng làm; chuyển những diện tích ngô năng suất thấp và đất hoang hóa sang cây trồng có giá trị, đồng thời gắn sản xuất với doanh nghiệp bao tiêu sản phẩm. Những mô hình bước đầu đang mở thêm hướng giảm nghèo cho địa phương nơi cực Bắc Tổ quốc.

Từ những mô hình đảng viên đi trước

Sau hợp nhất ba xã Lũng Cú, Lũng Táo và Ma Lé, xã Lũng Cú mới có diện tích tự nhiên hơn 95 km2, xã có 37 thôn, trong đó có 16 thôn biên giới; dân số hơn 15.100 người, đồng bào Mông chiếm 92,7%. Địa bàn rộng, địa hình chia cắt, điều kiện sản xuất không đồng đều, trong khi 825 hộ, chiếm 29% tổng số hộ, vẫn thuộc diện nghèo, 380 hộ cận nghèo. Thu nhập bình quân đầu người mới đạt 32 triệu đồng/năm. Bởi vậy, tìm cây trồng phù hợp, tạo đầu ra ổn định và giúp người dân thay đổi cách sản xuất được xã xác định là nhiệm vụ trực tiếp, lâu dài.

Thay vì triển khai dàn trải, xã lựa chọn những diện tích trồng ngô năng suất thấp, đất bỏ hoang hoặc canh tác kém hiệu quả để xây dựng mô hình điểm. Với phương châm “Đảng viên đi trước, làng nước theo sau”, mỗi chi bộ, cơ quan và một số cán bộ, đảng viên nhận phần việc cụ thể, trực tiếp xuống ruộng, cùng người dân trồng, chăm sóc, theo dõi khả năng thích nghi của cây trồng.

Trong năm 2026, Lũng Cú xây dựng 12 mô hình phát triển kinh tế điểm với tổng diện tích 17,5 ha. Các chi bộ, cơ quan đảm nhận gần 13 ha; có 4 cán bộ, đảng viên tiên phong thực hiện 4,5 ha mô hình mẫu. Cách làm này khiến chủ trương chuyển đổi cơ cấu cây trồng không dừng ở vận động. Khi cán bộ trực tiếp làm trước, hiệu quả và khó khăn của từng giống cây được kiểm chứng ngay trên đồng đất địa phương; người dân có nơi để quan sát, học hỏi và cân nhắc trước khi mở rộng sản xuất.

Đồng bào dân tộc Mông ở Lũng Cú (Tuyên Quang) chăm sóc vùng trồng gừng. 
Ảnh: Đức Thọ - TTXVN

Từ các mô hình ban đầu, xã đã chuyển đổi gần 150 ha đất trồng ngô năng suất thấp và đất hoang hóa sang những loại cây có giá trị cao hơn. Đến hết quý II/2026, địa phương trồng 125 ha gừng, đạt 100% kế hoạch; 20 ha hạt dẻ, đạt 100% kế hoạch. Cùng với đó, một số cây dược liệu như sâm núi, sâm Bố Chính, sâm Lai Châu, đương quy và cây mắc ca được đưa vào trồng thử nghiệm, bước đầu cho thấy khả năng thích nghi với khí hậu, thổ nhưỡng vùng cao.

Chuyển đổi cây trồng ở Lũng Cú được đặt trong mối liên kết từ giống, vật tư, kỹ thuật đến tiêu thụ. Địa phương đã huy động gần 1 tỷ đồng hỗ trợ các mô hình và ký kết bao tiêu sản phẩm với doanh nghiệp trong tỉnh. Đây là khâu có ý nghĩa quan trọng đối với người dân vùng cao, bởi sản xuất manh mún, thiếu thông tin thị trường và đầu ra bấp bênh từng khiến nhiều mô hình khó duy trì sau thời gian hỗ trợ.

Chủ tịch UBND xã Lũng Cú Trần Đức Chung cho biết, điều địa phương quan tâm nhất khi chuyển đổi cây trồng là tính phù hợp với từng khu vực và đầu ra của sản phẩm. Xã không khuyến khích người dân mở rộng diện tích bằng mọi giá mà lựa chọn những cây đã qua trồng thử nghiệm, có khả năng thích nghi với khí hậu, thổ nhưỡng và được doanh nghiệp liên kết tiêu thụ. Cùng với hỗ trợ giống, vật tư, cán bộ chuyên môn trực tiếp hướng dẫn kỹ thuật, theo dõi quá trình sinh trưởng để kịp thời xử lý những khó khăn phát sinh.

Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND xã Lũng Cú Dương Ngọc Đức xem sản phẩm gừng của bà con. 
Ảnh: Việt Anh - TTXVN phát

Theo Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND xã Lũng Cú Dương Ngọc Đức, địa phương xác định nông nghiệp tiếp tục là lĩnh vực trọng tâm, nhưng phải chuyển dần từ sản xuất nhỏ lẻ sang hình thành vùng cây trồng có lợi thế, nâng giá trị trên một đơn vị diện tích. Cán bộ, đảng viên được giao trách nhiệm gắn với mô hình và địa bàn; quá trình triển khai phải đi cùng hướng dẫn kỹ thuật, huy động nguồn lực và kết nối tiêu thụ để người dân có thể làm lâu dài.

Để sinh kế mới bền vững trên cao nguyên đá

Việc đưa cây mới vào sản xuất tại Lũng Cú không dễ dàng. Đất canh tác phân tán trong các hốc đá, thiếu nước, thời tiết diễn biến thất thường; trình độ thâm canh của người dân chưa đồng đều. Quy mô sản xuất phần lớn vẫn ở hộ gia đình, khả năng đầu tư còn hạn chế. Nếu chỉ có giống mà thiếu kỹ thuật, hoặc mở rộng diện tích khi chưa tính chắc đầu ra, người dân dễ đối mặt với rủi ro.

Cán bộ xã Lũng Cú (Tuyên Quang) hướng dẫn người dân kiểm tra chất lượng cũng như độ phát triển của cây gừng. 
Ảnh: Đức Thọ - TTXVN

Do đó, cùng với nhân rộng mô hình phù hợp, xã chú trọng các lớp tập huấn theo hướng “cầm tay chỉ việc”, giúp người dân nắm quy trình trồng, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh và thu hoạch. Việc lựa chọn cây trồng được tính toán theo từng tiểu vùng, tránh chạy theo phong trào. Với những loại cây đang thử nghiệm, địa phương tiếp tục theo dõi khả năng sinh trưởng và hiệu quả kinh tế trước khi khuyến khích mở rộng.

Nông nghiệp cũng được đặt trong không gian phát triển chung của xã biên giới. Lũng Cú có Cột cờ Quốc gia Lũng Cú, điểm Cực Bắc, làng văn hóa du lịch cộng đồng Lô Lô Chải, làng văn hóa Ma Lé, Thèn Pả cùng nhiều giá trị địa chất, văn hóa đặc sắc. Trong nhiệm kỳ 2020 - 2025, địa bàn đón hơn 780.000 lượt khách. Dòng khách tạo điều kiện để nông sản, mật ong, sản phẩm thủ công, ẩm thực truyền thống được giới thiệu và tiêu thụ ngay tại địa phương, mở thêm nguồn thu cho các hộ dân.

Những cây hoa đào nở rộ phần nào thu hút khách du lịch đến với làng văn hóa du lịch cộng đồng Lô Lô Chải.
Ảnh: Khánh Hoà - TTXVN

Định hướng nhiệm kỳ 2025 - 2030 của xã là phát triển theo hướng “nông nghiệp sạch - du lịch xanh - cộng đồng bền vững”, trong đó cây gừng, cây lê và lúa đặc sản được xác định là những cây trồng chủ lực. Lũng Cú phấn đấu đến năm 2030, tổng sản lượng lương thực có hạt đạt trên 5.800 tấn, giá trị sản phẩm thu hoạch trên một ha đạt 38 triệu đồng; tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn quốc gia giảm bình quân từ 5 - 6% mỗi năm.

Để đạt mục tiêu này, địa phương tiếp tục lồng ghép nguồn lực từ các chương trình mục tiêu quốc gia, tín dụng chính sách và xã hội hóa; ưu tiên hạ tầng phục vụ sản xuất, nước sinh hoạt, giao thông đến các khu dân cư và điểm du lịch. Xã cũng hướng tới phát triển sản phẩm nông nghiệp gắn với chế biến, xây dựng thương hiệu và thương mại điện tử, hạn chế tình trạng bán nguyên liệu thô, giá trị thấp.

Cùng với trồng trọt, chăn nuôi và bảo vệ rừng tiếp tục là phần quan trọng trong sinh kế của người dân. Hết quý II/2026, tổng đàn gia súc của xã đạt hơn 15.100 con, đàn gia cầm gần 68.730 con, đàn ong mật 985 đàn; diện tích rừng được khoanh nuôi, bảo vệ hơn 4.374 ha, tỷ lệ che phủ rừng đạt 44,32%. Những con số này cho thấy dư địa phát triển kinh tế hộ còn lớn nếu địa phương làm tốt khâu giống, phòng, chống dịch bệnh, chế biến và kết nối thị trường.

Điều đáng chú ý trong cách làm của Lũng Cú là mỗi mô hình kinh tế được gắn với trách nhiệm của tổ chức đảng và đảng viên, qua đó đưa nghị quyết đến gần với đời sống người dân vùng cao. Trên cao nguyên đá, thay đổi một tập quán canh tác không thể diễn ra trong ngày một, ngày hai. Nhưng từ những thửa gừng, vườn hạt dẻ và cây dược liệu đang bén rễ, một hướng sản xuất mới đã được mở ra. Khi người dân nhìn thấy hiệu quả trên chính đồng đất quê mình, niềm tin sẽ trở thành động lực để những mô hình nhỏ tiếp tục lan rộng, tạo sinh kế bền vững nơi địa đầu cực Bắc Tổ quốc./.


Tin liên quan

Lấy lợi ích của dân tộc và hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu cao nhất

Tư tưởng “dân là gốc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục là trục xuyên suốt của mọi chủ trương, đường lối, chính sách trong giai đoạn hiện nay. Trong tư tưởng của Người, Nhân dân là chủ thể của lịch sử, là nguồn sức mạnh vô tận của cách mạng, là mục tiêu phục vụ cao nhất của Đảng và Nhà nước. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Chính quyền từ Trung ương đến cơ sở đều là công bộc của dân. Cán bộ, đảng viên phải gần dân, hiểu dân, tin dân, trọng dân, học dân, vì dân và có trách nhiệm với Nhân dân.

Thư Lâm: Mỗi cán bộ, đảng viên một việc làm vì nhân dân

Thư Lâm đặt yêu cầu mỗi ngày có thêm một chuyển biến, mỗi địa bàn có thêm một việc làm thiết thực, mỗi cán bộ có thêm một hành động phục vụ nhân dân; qua đó từng bước đưa các tiêu chí xây dựng xã xã hội chủ nghĩa vào đời sống.

Tin cùng chuyên mục

Đưa nghị quyết vào cuộc sống

Từ lời căn dặn dung dị mà sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Kế hoạch một, biện pháp mười, quyết tâm hai mươi" đến thông điệp mạnh mẽ của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc ngày 3/9/2026 rằng hội nghị không chỉ là việc quán triệt mà mở ra giai đoạn quyết định là tổ chức thực hiện. Không được coi học nghị quyết là thủ tục, nghe xong, ban hành kế hoạch là hoàn thành. Giá trị của văn kiện phải thể hiện ở khả năng giải quyết vấn đề thực tiễn, tạo chuyển biến mà nhân dân cảm nhận được, là một mạch nguồn tư tưởng xuyên suốt, nhất quán về phong cách hành động của Đảng ta: Nói đi đôi với làm, lấy hiệu quả thực tiễn và sự hài lòng của nhân dân làm thước đo cao nhất.

Chăm lo cho việc học hôm nay là chuẩn bị cho tương lai của dân tộc ngày mai

Mỗi mùa khai trường về, trong tiếng trống trường rộn rã và ánh mắt háo hức của học trò, lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lại vang lên với ý nghĩa sâu sắc: “Non sông Việt Nam có thể trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em.”

Học sinh vùng cực Bắc đón năm học mới trong những ngôi trường khang trang

Cùng với các cơ sở giáo dục trong cả nước, ngày 5/9, cả 6 trường phổ thông nội trú liên cấp tiểu học và trung học cơ sở tại các xã biên giới Thanh Thủy, Minh Tân, Pà Vầy Sủ, Phố Bảng, Xín Mần và Sơn Vĩ, tỉnh Tuyên Quang đồng loạt tổ chức lễ khai giảng năm học 2026 - 2027 tại khuôn viên trường mới

Khoa học phải gắn với sản xuất, với đời sống, phải phục vụ nhân dân

Ngay từ những năm đầu của nước Việt Nam mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh vai trò của khoa học và kỹ thuật đối với sự nghiệp xây dựng đất nước. Người coi trọng việc học tập, tiếp thu tri thức mới, đồng thời yêu cầu phải biết vận dụng tri thức vào thực tiễn. Khoa học phải gắn với sản xuất, với đời sống; kỹ thuật phải phục vụ con người, phục vụ nhân dân. Người từng căn dặn: “Khoa học phải từ sản xuất mà ra và phải trở lại phục vụ sản xuất, phục vụ quần chúng”.