Ngành điện lan tỏa công nghệ cao đến vùng biên - Bài 1: Những “đại sứ số” của buôn làng
Ở các buôn làng vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới của tỉnh Lâm Đồng, câu chuyện chuyển đổi số, phát triển của điện mặt trời mái nhà và các giải pháp lưu trữ năng lượng đã và đang góp phần thay đổi nếp sống nơi đây, đồng thời từng bước hình thành mô hình phát triển kinh tế mới ở các địa phương vùng biên, hướng tới xây dựng mô hình quản trị hiện đại, xanh hơn trong sản xuất và phát triển bền vững hơn trong tương lai.
Nhân viên điện lực Đắk Wil hướng dẫn hộ kinh doanh về an toàn điện. Ảnh: Thanh Vũ – TTXVN


Ghi nhận quá trình chuyển đổi mạnh mẽ theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, cũng như Nghị quyết số 70-NQ/TW ngày 20/8/2025 của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, TTXVN thực hiện chùm 2 bài viết với chủ đề “Ngành điện lan tỏa công nghệ cao đến vùng biên”.

Bài 1: Những “đại sứ số” của buôn làng

Giữa những buôn làng vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới của tỉnh Lâm Đồng, chuyển đổi số trong ngành điện không bắt đầu từ những khái niệm công nghệ hay các hệ thống điều khiển hiện đại, mà từ những việc rất đỗi bình dị: Một cán bộ điện lực kiên nhẫn hướng dẫn người dân mở ứng dụng trên điện thoại, tra cứu tiền điện, thanh toán trực tuyến hay nhận thông báo ngừng cấp điện qua Zalo.

* Đưa dịch vụ số đến từng hộ dân

Từ những thao tác tưởng chừng đơn giản ấy, khoảng cách số đang từng bước được thu hẹp. Chuyển đổi số vì thế không chỉ làm thay đổi cách ngành điện phục vụ khách hàng mà còn góp phần thay đổi thói quen của người dân, đưa các dịch vụ công hiện đại đến gần hơn với vùng biên và tạo thêm động lực phát triển kinh tế - xã hội.

Tại thôn Lộc Tân, xã Đắk Wil, ông Lê Văn Lộc (65 tuổi) vẫn nhớ cảm giác lúng túng khi lần đầu sử dụng điện thoại thông minh để giao dịch với ngành điện. Đã quen với cách đến trực tiếp Điện lực để hỏi thông tin hoặc đóng tiền điện, ông Lộc khá dè dặt khi được hướng dẫn cài đặt ứng dụng chăm sóc khách hàng của ngành điện.

Thế nhưng, chỉ sau hơn mười phút được nhân viên Điện lực Cư Jút kiên trì “cầm tay chỉ việc”, ông Lộc đã tự mình tra cứu tiền điện, xem lịch ngừng cấp điện và hoàn tất giao dịch trực tuyến đầu tiên.

“Tưởng khó lắm, ai ngờ chỉ vài thao tác là biết ngay tiền điện tháng này, lịch cắt điện, không còn phải chạy đến Điện lực nữa”, ông Lộc cười chia sẻ.

Câu chuyện của ông Lộc cũng là hình ảnh khá phổ biến tại nhiều địa phương vùng biên của tỉnh Lâm Đồng, nơi phần lớn người dân, đặc biệt là người cao tuổi và đồng bào dân tộc thiểu số, vẫn còn nhiều bỡ ngỡ khi tiếp cận các dịch vụ số.

Ở xã Tuy Đức, ông Trần Văn Sơn cho biết việc cài đặt ứng dụng chăm sóc khách hàng đã giúp gia đình thay đổi thói quen sử dụng điện.

“Mỗi tháng tôi đều theo dõi lượng điện tiêu thụ trên điện thoại để điều chỉnh cho hợp lý. Khi có thông báo mất điện hay lịch công tác của ngành điện, gia đình đều nắm được sớm để chủ động công việc”, ông Sơn nói.

Không chỉ người dân, các doanh nghiệp cũng là đối tượng hưởng lợi rõ nét từ quá trình số hóa dịch vụ điện.

Đại diện Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Thương mại và Dịch vụ Lâm Tâm (bon Bu Dăr, xã Quảng Trực) cho biết hầu hết các giao dịch với ngành điện hiện đều được thực hiện trên môi trường số.

“Các giao dịch điện tử giúp doanh nghiệp tiết kiệm đáng kể thời gian và chi phí. Việc tra cứu sản lượng điện, thanh toán hay đăng ký các dịch vụ phát sinh đều thuận tiện hơn giúp chúng tôi chủ động kế hoạch sản xuất, nhất là trong các thời điểm cao điểm”, đại diện doanh nghiệp chia sẻ.

Tuy nhiên, phổ cập dịch vụ điện số ở vùng sâu, vùng xa vẫn còn nhiều thách thức. Tại các xã Quảng Trực, Tuy Đức, Đắk Wil, Thuận An, Thuận Hạnh..., nhiều người lớn tuổi chưa quen sử dụng điện thoại thông minh; hạ tầng viễn thông ở một số khu vực chưa đồng bộ khiến việc tiếp cận các tiện ích số gặp không ít khó khăn.

Theo ông Vũ Minh Tiến, Trưởng bon Bu Dăr, điều người dân cảm nhận rõ nhất không chỉ là chất lượng điện năng ngày càng ổn định mà còn là sự thay đổi trong phương thức phục vụ của ngành điện.

“Mỗi khi bảo trì hay sửa chữa lưới điện, chúng tôi đều nhận được thông báo trước trên nhóm Zalo của bon. Người dân chủ động sắp xếp sản xuất, sinh hoạt nên không còn bị động như trước”, ông Tiến cho biết.

Theo Nguyễn Thanh Đức Anh, nhân viên quản lý vận hành đường dây thuộc Điện lực Tuy Đức (Công ty Điện lực Lâm Đồng), ứng dụng chăm sóc khách hàng của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) hiện cung cấp gần như đầy đủ thông tin về sử dụng điện. Người dân có thể theo dõi sản lượng điện, tiền điện, lịch ngừng cấp điện hoặc gửi yêu cầu dịch vụ ngay trên điện thoại.

Anh Nguyễn Thanh Đức Anh, nhân viên quản lý vận hành đường dây thuộc Điện lực Tuy Đức (Công ty Điện lực Lâm Đồng) cùng các đồng nghiệp hướng dẫn người dân tại bon Bu Dăr, xã biên giới Quảng Trực sử dụng ứng dụng chăm sóc khách hàng của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN). Ảnh: Thanh Vũ – TTXVN

“Từ những tiện ích trên, chúng tôi phối hợp với địa phương tham gia các nhóm Zalo của thôn, bon để tuyên truyền sử dụng điện an toàn, tiết kiệm và hỗ trợ người dân tiếp cận dịch vụ trực tuyến. Mục tiêu của chúng tôi là để mọi khách hàng, kể cả ở vùng sâu, vùng xa, đều có thể tiếp cận đầy đủ các tiện ích số”, ông Đức Anh nhấn mạnh.

Theo ông Hoàng Văn Tám, Chủ tịch UBND xã Đắk Wil, điện ổn định là nền tảng quan trọng để địa phương triển khai chuyển đổi số.

“Địa phương đã huy động đoàn viên, thanh niên, học sinh, sinh viên thành lập các tổ hỗ trợ chuyển đổi số, đến từng thôn, buôn hướng dẫn người dân sử dụng điện thoại thông minh, thực hiện dịch vụ công trực tuyến và thanh toán không dùng tiền mặt. Đến nay, nhiều người dân đã từng bước làm chủ các tiện ích số trong đời sống”, ông Tám cho biết.

* Mỗi nhân viên ngành điện là một “đại sứ số”

Giữa những cánh rừng, nương rẫy trải dài ở Quảng Trực, Tuy Đức, Quảng Tân hay Đắk Wil, hình ảnh cán bộ điện lực mang theo điện thoại thông minh giờ đã trở nên quen thuộc không kém chiếc kìm, cuộn dây hay bộ dụng cụ sửa chữa.

Sau mỗi lần kiểm tra đường dây, thay công tơ hoặc xử lý sự cố, họ lại dành thêm thời gian hướng dẫn người dân cài đặt ứng dụng, tạo tài khoản, tra cứu chỉ số điện, nhận thông báo qua Zalo hoặc thanh toán trực tuyến.

Những công việc ấy không nằm trong quy trình sửa chữa lưới điện, nhưng lại trở thành một phần không thể thiếu trong hành trình chuyển đổi số ở vùng biên. Mỗi cán bộ điện lực vì thế không chỉ là người giữ dòng điện thông suốt mà còn là những “đại sứ số”, trực tiếp đưa các tiện ích hiện đại đến từng hộ dân.

Ông Trần Minh Huy, Trưởng Điện lực Tuy Đức cho biết đơn vị quản lý địa bàn rộng, địa hình đồi núi phức tạp với 225 km đường dây trung áp, 232 km đường dây hạ áp, hơn 200 trạm biến áp và gần 15.000 khách hàng sử dụng điện.

Theo ông Huy, chuyển đổi số được triển khai đồng bộ trên tất cả các lĩnh vực. “Trong quản lý kỹ thuật, các phần mềm theo dõi phụ tải, kết nối hệ thống SCADA giúp phát hiện và xử lý sự cố nhanh hơn, giảm đáng kể thời gian thao tác. Trong kinh doanh, các ứng dụng chăm sóc khách hàng giúp người dân chủ động theo dõi tiền điện, sản lượng điện, lịch ngừng cấp điện và thực hiện các dịch vụ điện trực tuyến, từ đó thuận lợi hơn trong sinh hoạt và sản xuất”, ông Huy cho biết.

Tại Điện lực Cư Jút, chuyển đổi số cũng tạo bước chuyển mạnh trong kết nối với khách hàng. Người dân không còn phải đi hàng chục km đến trụ sở điện lực mà có thể gửi yêu cầu qua ứng dụng hoặc các nhóm Zalo và được hỗ trợ nhanh chóng.

Bà Nguyễn Thị Hà, xã Đoàn Kết chia sẻ: “Giờ chỉ cần chiếc điện thoại thông minh là có thể tra cứu, thanh toán và nhận thông báo tiền điện. Người dân vùng xa như chúng tôi tiết kiệm được rất nhiều thời gian.”

Theo ông Phan Sỹ Duy, Giám đốc Công ty Điện lực Lâm Đồng, chuyển đổi số không chỉ được triển khai trong lĩnh vực kinh doanh mà còn gắn với quá trình hiện đại hóa quản lý, vận hành lưới điện.

“Hệ thống SCADA, các trạm biến áp không người trực, đo xa tự động và phần mềm quản lý kỹ thuật đã thay đổi căn bản phương thức quản lý, góp phần nâng cao độ tin cậy cung cấp điện và chất lượng dịch vụ khách hàng”, ông Duy nhấn mạnh.

Đến nay, Công ty Điện lực Lâm Đồng đã số hóa 99,998% công tơ bán điện bằng công tơ điện tử; tỷ lệ đo xa tự động đạt 98,13%. Toàn bộ dịch vụ điện được thực hiện bằng phương thức điện tử, đồng thời khai thác dữ liệu từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư để rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ. Nhờ đó, thời gian cấp điện cho khách hàng hạ áp chỉ còn 2,22 ngày, thấp hơn nhiều so với quy định.

Từ những buôn làng vùng biên đến các khu dân cư và doanh nghiệp, chuyển đổi số đang làm thay đổi cách ngành điện phục vụ khách hàng cũng như cách người dân tiếp cận các dịch vụ công thiết yếu. Khi người nông dân có thể thanh toán tiền điện bằng điện thoại, doanh nghiệp chủ động theo dõi sản lượng điện trực tuyến và mỗi cán bộ điện lực kiên trì “cầm tay chỉ việc” để người dân bước vào môi trường số, chuyển đổi số

Từ lưới điện hiện đại, nguồn điện ổn định đến quá trình chuyển đổi số đồng bộ ở vùng biên đã và đang trở thành một quá trình kiến tạo niềm tin, thu hẹp khoảng cách số và tạo nền tảng cho phát triển kinh tế - xã hội ở những vùng đất còn nhiều khó khăn./.

Bài cuối: Điện “xanh” bén rễ vùng biên

Tin liên quan

Dòng điện thắp sáng vùng biên

Trên tuyến biên giới phía Tây tỉnh Lâm Đồng, điện lưới quốc gia không chỉ là ánh sáng sinh hoạt, mà còn là huyết mạch nối dài thế trận lòng dân. Thế nhưng, để giữ cho dòng năng lượng ấy luôn thông suốt là cả một hành trình đầy gian nan của những người thợ điện nơi đây.

Tin cùng chuyên mục

Hành trình gọi tên những người đã ngã xuống

Chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ đang được triển khai với quyết tâm cao nhất, mở ra thêm hi vọng cho hành trình đưa những người con trở về với tên tuổi, quê hương và vòng tay gia đình.

Hướng đi mới cho kinh tế biển đô thị xanh

Thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào môi trường biển tự nhiên, một mô hình nuôi mực lá trên bể cạn theo công nghệ aquaponics (mô hình nông nghiệp tuần hoàn khép kín kết hợp giữa nuôi trồng thủy sản và thủy canh, trồng rau không cần đất) đang được thử nghiệm tại TP. Hồ Chí Minh mở ra cách tiếp cận mới cho nuôi biển công nghệ cao

Chuyển đổi số - nền tảng cho tăng trưởng mới của Hà Nội

Sau nhiều năm tăng trưởng dựa chủ yếu vào mở rộng không gian đô thị, đầu tư hạ tầng và thu hút vốn, Hà Nội đang bước vào giai đoạn chuyển đổi mô hình phát triển với mục tiêu xây dựng nền kinh tế dựa trên tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

GDP Việt Nam có thể đạt hai con số nhờ động lực tăng trưởng bền vững

Theo tờ The Star (Malaysia) và trang hubbis.com (Hong Kong, Trung Quốc), Ngân hàng Standard Chartered nâng dự báo tăng trưởng Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam trong năm 2026 lên 9,5% và tiếp tục tăng lên 11% vào năm 2027. Động thái điều chỉnh này phản ánh đánh giá tích cực về đà phục hồi và tăng trưởng của nền kinh tế.

Bước ngoặt của thị trường bất động sản Hải Phòng

Trong bối cảnh Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 07-CT/TW về đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới, yêu cầu lấy hiệu quả thực chất và lợi ích của nhân dân làm trung tâm đang đặt ra định hướng mới cho nhiều lĩnh vực; trong đó, có thị trường bất động sản.