Nghị quyết 68-NQ/TW: Kinh tế tư nhân trước cơ hội phát triển mới
Với hơn 13.400 doanh nghiệp đang hoạt động, trong đó doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm trên 97%, khu vực kinh tế tư nhân giữ vai trò quan trọng trong tăng trưởng và tạo việc làm tại Vĩnh Long. Để phát huy nguồn lực này, tỉnh tập trung cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh và tháo gỡ các vướng mắc về vốn, đất đai, hạ tầng, công nghệ, liên kết thị trường, giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh.
Chế biến dừa xuất khẩu tại nhà máy Kim Thanh, xã Giao Long, tỉnh Vĩnh Long. Ảnh: Phúc Sơn - TTXVN

*Nhận diện điểm nghẽn

Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Vĩnh Long Đặng Văn Chính cho biết, thực hiện Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, tỉnh xác định đây là khu vực quan trọng trong tạo việc làm, nâng cao thu nhập, đóng góp ngân sách, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và cải thiện năng suất lao động.

Sau hợp nhất, Vĩnh Long có tiềm năng phát triển về nông nghiệp, công nghiệp, năng lượng, logistics và kinh tế biển. Tuy nhiên, để chuyển lợi thế thành giá trị kinh tế, doanh nghiệp cần có điều kiện tiếp cận vốn, đất đai, hạ tầng, công nghệ và thị trường thuận lợi hơn.

Theo ông Nguyễn Phương Lam, Giám đốc Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam chi nhánh Đồng bằng sông Cửu Long, kinh tế tư nhân đóng góp khoảng 67% GRDP và tạo việc làm cho 52% lực lượng lao động của tỉnh. Dù số lượng doanh nghiệp có xu hướng tăng nhưng mật độ doanh nghiệp vẫn thấp so với bình quân vùng Đồng bằng sông Cửu Long; phần lớn doanh nghiệp có quy mô nhỏ và siêu nhỏ, hạn chế về nguồn lực đầu tư công nghệ, mở rộng thị trường và nâng cao năng lực quản trị.

Ông Nguyễn Phương Lam đề xuất tỉnh xây dựng “Bộ chỉ số sức khỏe doanh nghiệp Vĩnh Long” để theo dõi các chỉ tiêu như tỷ lệ doanh nghiệp thực sự hoạt động, tình hình rút lui và chuyển đổi quy mô, giá trị tăng thêm trên lao động, khả năng tiếp cận vốn, đất đai, lao động, dịch vụ và mức độ tham gia chuỗi giá trị. Qua đó, tỉnh có cơ sở đánh giá thực chất tình hình doanh nghiệp và xác định chính sách hỗ trợ phù hợp.

Ở góc độ doanh nghiệp, ông Trần Văn Đức, Chủ tịch lâm thời Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Vĩnh Long, cho rằng tỉnh cần tiếp tục đơn giản hóa thủ tục hành chính, nhất là các khâu thẩm định đầu tư, đất đai và cấp phép xây dựng. Việc xây dựng hệ thống dữ liệu số đồng bộ về quy hoạch, thị trường sẽ giúp doanh nghiệp tiếp cận thông tin nhanh hơn, giảm chi phí và chủ động lựa chọn địa điểm, lĩnh vực đầu tư. Ngoài thủ tục, doanh nghiệp nhỏ và vừa còn gặp khó khi tiếp cận tín dụng, tìm quỹ đất sản xuất, tuyển lao động có kỹ năng và đầu tư đổi mới công nghệ. Vì vậy, chính sách hỗ trợ cần xuất phát từ nhu cầu thực tế của doanh nghiệp, trong đó chú trọng khả năng duy trì hoạt động, mở rộng sản xuất và nâng năng suất lao động.

*Tăng liên kết, nâng giá trị sản phẩm

Vĩnh Long có thế mạnh về dừa, cây ăn quả, lúa gạo, thủy sản và nhiều sản phẩm đặc trưng. Đây là cơ sở để doanh nghiệp mở rộng chế biến, nâng giá trị sản phẩm và tiếp cận thị trường có yêu cầu cao. Tuy nhiên, sản xuất còn phân tán, nguồn vốn hạn chế và liên kết giữa doanh nghiệp, hợp tác xã với người sản xuất chưa chặt chẽ. Đây là trở ngại đối với việc xây dựng vùng nguyên liệu đạt chuẩn, bảo đảm nguồn cung ổn định và phát triển chế biến sâu.

Ông Trầm Minh Thuần, Chủ tịch Hội đồng quản trị Hợp tác xã Nông nghiệp Long Hiệp (xã Long Hiệp), cho biết hợp tác xã có vai trò kết nối nông dân với doanh nghiệp, tổ chức sản xuất theo quy trình và hình thành chuỗi giá trị. Tuy nhiên, nhiều hợp tác xã có quy mô nhỏ, thiếu vốn, hạn chế về quản trị, khó tiếp cận tín dụng và công nghệ. Theo đó, trong điều kiện cạnh tranh ngày càng cao, lợi thế không còn chỉ nằm ở tài nguyên hay chi phí lao động thấp mà phụ thuộc nhiều hơn vào công nghệ, dữ liệu, đổi mới sáng tạo, chất lượng nhân lực và năng lực quản trị. Do đó, doanh nghiệp và hợp tác xã cần chuyển từ tư duy tập trung vào sản lượng sang tạo ra giá trị, chú trọng chất lượng, xây dựng thương hiệu và tổ chức chuỗi cung ứng ổn định.

Từ góc độ xuất khẩu, bà Châu Kim Yến, Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu Bến Tre (Betrimex), cho biết các thị trường quốc tế ngày càng yêu cầu cao về chất lượng, truy xuất nguồn gốc, phát triển xanh và giảm phát thải. Trong khi đó, xây dựng vùng nguyên liệu ổn định, bảo đảm thu nhập cho nông dân và phân chia lợi ích hài hòa giữa các bên vẫn là thách thức. Doanh nghiệp cần vùng nguyên liệu đáp ứng tiêu chuẩn, còn nông dân và hợp tác xã cần đầu ra ổn định, được hỗ trợ kỹ thuật, quy trình sản xuất và thông tin thị trường. Vì vậy, liên kết sản xuất phải dựa trên lợi ích cụ thể của từng bên, không chỉ dừng ở thỏa thuận thu mua ngắn hạn. Chuẩn hóa vùng nguyên liệu, nâng năng suất, chất lượng và khả năng truy xuất nguồn gốc sẽ giúp sản phẩm tham gia sâu hơn vào chuỗi chế biến, xuất khẩu.

Cùng với củng cố liên kết, tỉnh cần khuyến khích doanh nghiệp đầu tư chế biến sâu, ứng dụng khoa học - công nghệ, đổi mới quy trình sản xuất, phát triển kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn. Hạ tầng logistics, kho lạnh, giao thông liên vùng và hạ tầng số cũng cần được cải thiện để giảm chi phí, bảo đảm lưu thông hàng hóa. Đồng thời, tăng kết nối doanh nghiệp với ngân hàng thương mại, đa dạng hóa nguồn tín dụng phù hợp với chu kỳ sản xuất, kinh doanh, trong đó có vốn phục vụ chuyển đổi xanh.

Thực hiện Nghị quyết số 68-NQ/TW, Vĩnh Long đặt mục tiêu đến năm 2030 có khoảng 20.800 doanh nghiệp; khu vực kinh tế tư nhân đóng góp 60-65% GRDP và tạo việc làm cho 85-90% lực lượng lao động. Đến năm 2045, tỉnh phấn đấu có ít nhất 63.200 doanh nghiệp, khu vực kinh tế tư nhân đóng góp trên 70% GRDP, hình thành các doanh nghiệp có thương hiệu, năng lực cạnh tranh và tham gia chuỗi giá trị khu vực, toàn cầu.

Để đạt mục tiêu, tỉnh cần gắn việc triển khai chính sách với những khó khăn doanh nghiệp đang gặp phải. Các thủ tục đầu tư, đất đai, xây dựng và điều kiện kinh doanh cần được rà soát theo hướng rõ quy trình, thời hạn và trách nhiệm xử lý. Cơ quan quản lý tiếp tục đối thoại, giải quyết kiến nghị, bảo đảm môi trường cạnh tranh minh bạch, bình đẳng giữa các thành phần kinh tế.

Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Long Trần Trí Quang cho biết, tỉnh sẽ tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, đẩy mạnh cải cách hành chính và chuyển đổi số, nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp; tập trung tháo gỡ vướng mắc về thủ tục, đất đai, đầu tư, hạ tầng và điều kiện kinh doanh. Tỉnh cũng chú trọng hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ, chuyển đổi xanh, mở rộng thị trường và tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị.

Ca sản xuất hàng may mặc xuất khẩu tại Công ty Việt Vương, xã Giao Long, tỉnh Vĩnh Long. Ảnh: Phúc Sơn - TTXVN

Cộng đồng doanh nghiệp tăng cường liên kết, hợp tác trong sản xuất, kinh doanh; phát huy vai trò dẫn dắt của doanh nghiệp lớn, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa nâng cao năng lực quản trị, đồng thời tạo điều kiện cho doanh nghiệp khởi nghiệp phát triển. Sự kết nối giữa các nhóm doanh nghiệp sẽ góp phần hình thành chuỗi giá trị, nâng sức cạnh tranh của sản phẩm địa phương.

Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Long khẳng định, chính quyền không thể làm thay doanh nghiệp. Nhưng chính quyền phải làm tốt phần việc của mình để doanh nghiệp không phải mất thời gian, chi phí và nguồn lực cho những việc đáng lẽ có thể được giải quyết tốt hơn từ phía chính quyền. Đó chính là tinh thần kiến tạo và phục vụ mà tỉnh Vĩnh Long hướng tới.

Tin liên quan

Nghị quyết 10-NQ/TW: Hút vốn ngoại vào công nghiệp công nghệ cao

Với mục tiêu duy trì đà tăng trưởng hai con số, tỉnh Khánh Hòa đang đẩy mạnh thu hút đầu tư nước ngoài (FDI), lựa chọn các dự án có hàm lượng công nghệ cao và khả năng tham gia sâu vào chuỗi giá trị. Những dự án FDI mở ra dư địa phát triển mới, góp phần nâng cao năng lực sản xuất, tạo việc làm và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương.

Đưa tài sản trí tuệ thành động lực phát triển doanh nghiệp

Thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Tây Ninh đứng trước yêu cầu chuyển từ bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ sang quản trị, khai thác và thương mại hóa hiệu quả, đưa tài sản trí tuệ thành động lực phát triển doanh nghiệp.

Tin cùng chuyên mục

Nghị quyết 57-NQ/TW: Xây dựng hệ sinh thái xuất khẩu số, tạo sức bật cho hàng Việt

Thương mại điện tử xuyên biên giới đang mở ra một hướng đi mới cho xuất khẩu Việt Nam, giúp doanh nghiệp rút ngắn khoảng cách với người tiêu dùng quốc tế, mở rộng thị trường và từng bước xây dựng thương hiệu trên môi trường số. Tuy nhiên, cơ hội đưa hàng Việt ra thế giới không chỉ nằm ở việc hiện diện trên các sàn thương mại điện tử mà còn phụ thuộc vào năng lực tổ chức kinh doanh, chất lượng sản phẩm, khả năng đáp ứng tiêu chuẩn thị trường và sự đồng bộ của hệ sinh thái hỗ trợ. Từ định hướng của Bộ Công Thương đến các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp giai đoạn 2026 - 2030, yêu cầu đặt ra là chuyển xuất khẩu trực tuyến từ một kênh bán hàng tiềm năng thành năng lực kinh doanh thực chất, tạo giá trị lâu dài cho hàng hóa Việt Nam.

Nghị quyết 20-NQ/TW: TP. Hồ Chí Minh định hình chiến lược phát triển kinh tế biển phù hợp

Ngày 30/10, tại phường Vũng Tàu, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh tổ chức Hội thảo khoa học "Chiến lược phát triển kinh tế biển phù hợp với TP. Hồ Chí Minh" với chủ đề "Phát triển kinh tế biển xanh TP. Hồ Chí Minh - Kết nối cảng biển, công nghiệp, logistics, năng lượng và đô thị biển trong không gian siêu đô thị".

Bài 4: Kết nối truyền thống với hiện đại

Với việc triển khai xây dựng mô hình "xã, phường xã hội chủ nghĩa", thành phố Hà Nội xác định phải bảo đảm kế thừa truyền thống, phát huy bản sắc Hà Nội, kết hợp hài hòa giữa giá trị văn hiến lâu đời với yêu cầu phát triển hiện đại, góp phần hình thành và lan tỏa hình ảnh Thủ đô văn minh, thanh lịch, nhân văn.

Bài 3: Nền tảng cho sự phát triển bền vững

Một trong những nhiệm vụ khi triển khai mô hình xã, phường xã hội chủ nghĩa tại Hà Nội là phát triển hạ tầng đồng bộ, hiện đại gắn với xây dựng không gian sống thông minh, nâng cao chất lượng, tiện ích phục vụ nhân dân và phát triển kinh tế theo hướng liên kết, hợp tác nâng cao thu nhập đi đôi với đảm bảo công bằng trong tiếp cận cơ hội phát triển.

Bài 2: Một bộ máy gần dân

Từ quầy tiếp nhận hồ sơ hành chính đến những cuộc đối thoại về đất đai, giải phóng mặt bằng, yêu cầu đổi mới hoạt động chính quyền cơ sở đang được đặt ra cụ thể tại hai xã Thư Lâm và Phúc Thịnh, nơi Hà Nội triển khai thí điểm mô hình xã xã hội chủ nghĩa.

Bài 1: Người dân là trung tâm và mục tiêu của phát triển

Trong quá trình triển khai Đề án thí điểm mô hình “Xã, phường xã hội chủ nghĩa” trên địa bàn thành phố Hà Nội, điều mấu chốt mà thành phố đặt ra là phát huy quyền làm chủ của nhân dân, nâng cao chất lượng sống, sự hài lòng và hạnh phúc của nhân dân.