Nghị quyết 71-NQ/TW: Cuộc cách mạng toàn diện về giáo dục và đào tạo ở miền núi
Nghị quyết 71-NQ/TW được kỳ vọng tạo ra cuộc cách mạng toàn diện về giáo dục và đào tạo, hướng đến mục tiêu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển mới.
Một giờ học của học sinh lớp 9, Trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học Cơ sở, Trung học Phổ thông Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn. 
Ảnh: Anh Tuấn – TTXVN

Nhiều năm qua, tỉnh Lạng Sơn đặc biệt chú trọng đến công tác đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo. Dù vậy, địa phương này vẫn gặp không ít khó khăn. Cơ sở vật chất trường lớp học, điều kiện dạy và học, nhất là ở vùng sâu, vùng xa chưa đáp ứng được yêu cầu... Nghị quyết 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo có ý nghĩa quan trọng đối với tỉnh miền núi biên giới như Lạng Sơn. Nghị quyết được kỳ vọng tạo ra cuộc cách mạng toàn diện về giáo dục và đào tạo, hướng đến mục tiêu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển mới.

* Đáp ứng nhu cầu học tập

Một buổi học của Trường Mầm non xã Quốc Khánh, tỉnh Lạng Sơn.
Ảnh: Anh Tuấn - TTXVN

Tỉnh Lạng Sơn có gần 650 cơ sở giáo dục. Trong đó, 223 trường mầm non; 154 trường tiểu học; 213 trường trung học cơ sở, tiểu học và trung học cơ sở; 37 trường trung học phổ thông, trung học cơ sở và trung học phổ thông; 11 trung tâm giáo dục thường xuyên; 1 trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập. Toàn tỉnh có 595 điểm trường, trong đó, 316 điểm trường mầm non, 211 điểm trường tiểu học và 68 điểm trường tiểu học và trung học cơ sở.

Tính đến thời điểm hiện nay, tỉnh còn 93 cơ sở giáo dục chưa bảo đảm quy mô tối thiểu theo quy định tại Thông tư số 14/VBHN-BGDĐT ngày 31/12/2024 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, chủ yếu là những trường có quy mô nhỏ với 1 lớp/khối. Quy mô nhỏ lẻ xuất phát từ đặc điểm địa hình miền núi, dân cư phân tán, một số khu vực giảm số trẻ em, học sinh; điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và hạn chế về quỹ đất, không đáp ứng yêu cầu mở rộng trường lớp.

Tỉnh có tổng số 204.877 trẻ/học sinh; trong đó, cấp mầm non 48.573 em; tiểu học 70.413 em; trung học cơ sở 54.678 em; trung học phổ thông 25.968 em và giáo dục thường xuyên 5.245 em. Tổng số cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên toàn ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh có hơn 20.290 người, thiếu 283 biên chế so với số biên chế được giao...

Lãnh đạo Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh cho biết, những năm qua, Lạng Sơn đã ưu tiên các nguồn lực đầu tư cho giáo dục và đào tạo, đáp ứng các tiêu chuẩn trường học chuẩn quốc gia. Toàn tỉnh có 319 trường học. Các trường học đạt chuẩn quốc gia tạo điều kiện, môi trường học tập tốt nhất cho học sinh.

Đặc biệt, thực hiện Thông báo kết luận của Bộ Chính trị về chủ trương đầu tư xây dựng trường học cho các xã biên giới (Thông báo số 81-TB/TW ngày 18/7/2025), tỉnh Lạng Sơn đang triển khai xây dựng 11 trường phổ thông nội trú liên cấp tiểu học và trung học cơ sở tại các xã biên giới: Ba Sơn, Cao Lộc, Đồng Đăng, Kiên Mộc, Khuất Xá, Kháng Chiến, Mẫu Sơn, Hoàng Văn Thụ, Thụy Hùng, Quốc Khánh và Quốc Việt. Khi hoàn thành đưa vào sử dụng, các trường học này có đầy đủ trang thiết bị hiện đại, đáp ứng nhu cầu học tập cho hơn 12.700 học sinh.

Hiện, 4 trường nội trú liên cấp thuộc các xã: Khuất Xá, Kháng Chiến, Mẫu Sơn và Quốc Khánh đang được tăng tốc thi công. Tỉnh phấn đấu đưa 4 công trình này vào khai thác, sử dụng trong tháng 7 năm 2026, sau đó tiếp tục triển khai 7 trường nội trú liên cấp còn lại.

Trong năm học 2025 - 2026, trên địa bàn tỉnh có 63 cơ sở giáo dục phổ thông ở các xã biên giới, với tổng số học sinh trên 16.800 em; trong đó có 26 trường có cấp tiểu học, 34 trường có cấp trung học cơ sở và 3 trường có cấp trung học phổ thông. Thực tế tại địa phương cho thấy, chủ trương đầu tư xây dựng trường học cho các xã biên giới phù hợp với thực tiễn phát triển, đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh khu vực miền núi biên giới.

* Bứt phá từ chất lượng nguồn nhân lực

Tỉnh Lạng Sơn ưu tiên bố trí nguồn lực nhằm tạo bước đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.
Ảnh: Anh Tuấn - TTXVN

Theo Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Lạng Sơn Đoàn Thị Hậu, thực hiện Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Lạng Sơn đã ban hành Kế hoạch hành động số 09-KH/TU ngày 11/12/2025; trong đó xác định rõ, ưu tiên bố trí nguồn lực nhằm tạo bước đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.

Lạng Sơn đặt mục tiêu đến năm 2030, xây dựng mạng lưới trường lớp đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh thuộc mọi đối tượng. Đồng thời tỉnh phấn đấu hoàn thành Đề án củng cố và phát triển hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú trong năm 2027; 11/11 xã biên giới có trường phổ thông nội trú liên cấp tiểu học và trung học cơ sở; đầu tư xây dựng trường Trung học phổ thông chuyên Chu Văn An tại địa điểm mới (hoàn thành trước năm 2030).

Tỉnh phấn đấu 70% trường phổ thông đạt chuẩn quốc gia; hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em từ 3 - 5 tuổi; thực hiện giáo dục bắt buộc cấp tiểu học, cấp trung học cơ sở; ít nhất 90% người trong độ tuổi hoàn thành cấp trung học phổ thông và tương đương. Học sinh đạt được yêu cầu năng lực công nghệ, năng lực tiếng Anh ở từng cấp học theo quy định trong Chương trình giáo dục phổ thông mới. Mức độ cơ bản ứng dụng trí tuệ nhân tạo theo khung năng lực số. Chỉ số giáo dục đóng góp vào chỉ số phát triển con người (HDI) đạt 0,8 trở lên.

Mạng lưới các cơ sở giáo dục nghề nghiệp của tỉnh sắp xếp phù hợp và đầu tư nâng cấp. Tỉnh phấn đấu có 1 cơ sở giáo dục nghề nghiệp đạt chuẩn quốc gia, thành lập 1 trung tâm ươm mầm sáng tạo. Tỷ lệ người trong độ tuổi theo học các trình độ sau trung học phổ thông đạt 50%. Tỷ lệ người lao động qua đào tạo đạt 76% trong đó có trình độ cao đẳng, đại học trở lên đạt 24%...

Tầm nhìn đến năm 2045, mọi người dân có cơ hội học tập suốt đời, nâng cao trình độ, kỹ năng và phát triển tối đa tiềm năng cá nhân. Nguồn nhân lực chất lượng cao, nhân tài khoa học, công nghệ trở thành động lực và lợi thế cạnh tranh.

Tỉnh Lạng Sơn tiếp tục thực hiện hiệu quả, kịp thời chính sách ưu đãi đặc thù, vượt trội cho đội ngũ nhà giáo, nhất là đội ngũ nhà giáo công tác tại vùng đặc biệt khó khăn, biên giới; đẩy mạnh giáo dục toàn diện đức, trí, thể, mỹ, hình thành hệ giá trị con người Việt Nam gắn với bản sắc dân tộc tỉnh Lạng Sơn thời đại mới.

Lạng Sơn sẽ xây dựng dữ liệu giáo dục của tỉnh liên thông phục vụ chuyển đổi số và triển khai nền tảng giáo dục quốc gia ứng dụng trí tuệ nhân tạo có đạo đức, an toàn, hiệu quả. Tỉnh bố trí đủ nguồn lực đầu tư cơ sở vật chất, hạ tầng công nghệ để đẩy nhanh chuyển đổi số, phổ cập và ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo trong quản lý, tổ chức hoạt động giáo dục, đào tạo ở tất cả cấp học.

Địa phương tập trung nguồn lực đầu tư xây dựng kiên cố hóa, hiện đại hóa trường, lớp học; bảo đảm đủ cơ sở vật chất, trang thiết bị đạt chuẩn; chú trọng đầu tư các phòng học thực hành, trải nghiệm STEM/STEAM, Robotics không gian vui chơi, môi trường rèn luyện thể chất.

Đặc biệt, tỉnh áp dụng phương pháp giáo dục hiện đại, tích cực, tăng cường tự học, trải nghiệm sáng tạo, hướng học sinh phát huy tư duy độc lập, năng lực giải quyết vấn đề; tăng cường việc dạy và học ngoại ngữ, từng bước đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học.

Thầy Hoàng Đức Cường, Hiệu trưởng trường Trung học phổ thông Dân tộc nội trú tỉnh Lạng Sơn nhìn nhận: Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị tạo hành lang pháp lý cho phát triển giáo dục toàn diện. Thực hiện Nghị quyết này, trường huy động các nguồn lực xã hội, xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý đủ phẩm chất, năng lực, uy tín; đẩy mạnh giáo dục đạo đức, lối sống, kỹ năng sống, kỹ năng nghề nghiệp cho học sinh nội trú.

Nhà trường chú trọng nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện học sinh dân tộc thiểu số; tăng cường chuyển đổi số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý, dạy và học./.


Tin liên quan

Các nghị quyết chiến lược đưa đất nước vững bước tiến mạnh vào kỷ nguyên phát triển mới

Từ tháng 12/2024 đến nay, Bộ Chính trị ban hành liên tiếp 9 nghị quyết chiến lược, tập trung vào các lĩnh vực then chốt của phát triển đất nước, gồm: Nghị quyết số 57-NQ/TW về Đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết số 59-NQ/TW về Hội nhập quốc tế trong tình hình mới; Nghị quyết số 66-NQ/TW về Đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới; Nghị quyết số 68-NQ/TW về Phát triển kinh tế tư nhân; Nghị quyết số 70-NQ/TW về Bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; Nghị quyết số 71-NQ/TW về Đột phá phát triển giáo dục và đào tạo; Nghị quyết số 72-NQ/TW về Một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân; Nghị quyết 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước; Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hoá Việt Nam.

Tin cùng chuyên mục

Đảng bộ TTXVN quán triệt Nghị quyết 79, 80 của Bộ Chính trị

Sáng 25/2, Đảng bộ Thông tấn xã Việt Nam đã tổ chức nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 79-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước và Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, theo hình thức trực tuyến kết nối với Hội nghị toàn quốc do Ban Bí thư Trung ương Đảng tổ chức.

Các mục tiêu, chỉ tiêu môi trường chủ yếu 5 năm 2026-2030

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV đặt ra các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển chủ yếu về kinh tế, xã hội và môi trường cho 5 năm 2026-2030. Trong đó các mục tiêu, chỉ tiêu môi trường là: Tỉ lệ che phủ rừng duy trì mức 42%; tỉ lệ xử lý và tái sử dụng nước thải ra môi trường lưu vực các sông đạt 65 - 70%; lượng phát thải khí nhà kính giảm 8 - 9%; tỉ lệ các cơ sở sản xuất kinh doanh đạt quy chuẩn về môi trường đạt khoảng 98 - 100%; tăng diện tích các khu bảo tồn biển, ven biển đạt tối thiểu 6% diện tích tự nhiên vùng biển quốc gia.

Các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển xã hội chủ yếu 5 năm 2026-2030

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV đặt ra các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển chủ yếu về kinh tế, xã hội và môi trường cho 5 năm 2026-2030. Trong đó các mục tiêu, chỉ tiêu môi trường là: Tỉ lệ che phủ rừng duy trì mức 42%; tỉ lệ xử lý và tái sử dụng nước thải ra môi trường lưu vực các sông đạt 65 - 70%; lượng phát thải khí nhà kính giảm 8 - 9%; tỉ lệ các cơ sở sản xuất kinh doanh đạt quy chuẩn về môi trường đạt khoảng 98 - 100%; tăng diện tích các khu bảo tồn biển, ven biển đạt tối thiểu 6% diện tích tự nhiên vùng biển quốc gia.

Các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển kinh tế chủ yếu 5 năm 2026-2030

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV đặt ra các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển chủ yếu về kinh tế, xã hội và môi trường cho 5 năm 2026-2030. Trong đó các mục tiêu, chỉ tiêu kinh tế là: Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân cho giai đoạn 2026 - 2030 từ 10%/năm trở lên; GDP bình quân đầu người đến năm 2030 đạt khoảng 8.500 USD; tỉ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo đạt khoảng 28% GDP; tỉ trọng kinh tế số đạt khoảng 30% GDP. Đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế đạt trên 55%...

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV: Các mục tiêu phát triển của đất nước

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV đề ra mục tiêu phát triển: Giữ vững môi trường hoà bình, ổn định; phát triển nhanh, bền vững đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc; cải thiện và nâng cao toàn diện đời sống Nhân dân; tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên mới của dân tộc; thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; hiện thực hoá tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao vì một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Hà Nội triển khai Kế hoạch hội nhập kinh tế quốc tế năm 2026

UBND thành phố Hà Nội đã ban hành Kế hoạch số 53/KH-UBND ngày 6/2/2026 về hội nhập kinh tế quốc tế năm 2026, góp phần thúc đẩy tăng trưởng nhanh, bền vững và nâng cao vị thế Thủ đô. Kế hoạch của Hà Nội tập trung vào việc thu hút dòng vốn chất lượng cao, đẩy mạnh xuất khẩu thông qua các hiệp định thương mại tự do (FTA) và chuyển đổi sang mô hình kinh tế xanh, bền vững.

Bảo đảm cung ứng điện cao điểm năm 2026 và giai đoạn 2027 - 2030

Quyền Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng vừa ký ban hành Chỉ thị số 04/CT-BCT về việc triển khai các giải pháp, nhiệm vụ bảo đảm cung cấp điện trong thời gian cao điểm năm 2026 và giai đoạn 2027 - 2030, thúc đẩy tiến độ các dự án nguồn, lưới điện trọng điểm.