Phát huy hiệu quả chính sách dân tộc, nâng cao đời sống đồng bào Khmer
An Giang đẩy mạnh đầu tư hạ tầng, phát triển giáo dục, y tế; tạo sinh kế bền vững; đồng thời bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của đồng bào Khmer.
Nhiều người Khmer trên địa bàn xã Tri Tôn (tỉnh An Giang) đã mạnh dạn đầu tư, phát triển nông nghiệp mang lại thu nhập ổn định. 
Ảnh: Công Mạo - TTXVN

Trong những năm qua, tỉnh An Giang đã triển khai hiệu quả các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với đồng bào dân tộc thiểu số, tạo điều kiện thuận lợi để người dân phát triển sản xuất, kinh doanh, góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội địa phương. Đặc biệt, đồng bào Khmer trên địa bàn tỉnh đón Tết cổ truyền Chôl Chnăm Thmây 2026 trong không khí vui tươi, phấn khởi khi đời sống vật chất, tinh thần ngày càng được nâng cao.

*Sinh kế ổn định, nhiều hộ Khmer vươn lên khá giả

Là một trong những hộ Khmer sản xuất giỏi tiêu biểu ở xã Định Hòa, tỉnh An Giang, gia đình ông Danh Be (60 tuổi) thường được chính quyền địa phương khen thưởng, biểu dương vì có nhiều đóng góp tích trong thực hiện tốt công tác an sinh xã hội, xây dựng nông thôn mới. Ông Be chia sẻ, trước đây gia đình ông thuộc hộ khó khăn nhưng nhờ siêng năng, nhạy bén, mạnh dạn áp dụng các mô hình phát triển kinh tế trong làm ruộng, nuôi trâu, bò, lợn, vịt… đã giúp gia đình vươn lên khá giàu.

Hiện nay, gia đình ông Be sở hữu gần 5 ha đất trồng lúa, canh tác từ 2–3 vụ mỗi năm, đồng thời duy trì đàn trâu thường xuyên từ 7–8 con. Mỗi năm, gia đình thu hoạch khoảng 80 tấn lúa, xuất bán từ 4–5 con trâu, đạt tổng thu nhập khoảng 750 triệu đồng. Sau khi trừ chi phí, lợi nhuận thu về hơn 400 triệu đồng. Nhờ đó, năm 2022, ông đã xây dựng được căn nhà khang trang với kinh phí trên 1 tỷ đồng.

Ông Be cho biết, để có được cuộc sống ấm no, khá giả như hiện nay, trước hết là nhờ sự nỗ lực của vợ chồng ông, đồng thời có sự hỗ trợ thiết thực từ các chủ trương, chính sách dành cho đồng bào Khmer như vay vốn phát triển sản xuất, đầu tư điện lưới quốc gia, hạ tầng giao thông, cùng các chính sách về bảo hiểm y tế, miễn giảm học phí cho học sinh... Nhận thức rõ điều đó, khi kinh tế ổn định, gia đình ông luôn tích cực đóng góp vào các quỹ an sinh xã hội, hiến đất làm đường, chung tay xây dựng đời sống văn hóa và củng cố tinh thần đoàn kết giữa các dân tộc Kinh, Hoa, Khmer.

Đón Tết Chôl Chnăm Thmây 2026, gia đình ông Danh Mích, xã Ngọc Chúc thêm phần vui tươi, phấn khởi khi vừa xây dựng được căn nhà tường khang trang, con gái đã có việc làm ổn định. Với 1 ha đất sản xuất lúa, nguồn thu chưa cao, vợ chồng ông chủ động làm thêm nhiều nghề như trồng nấm rơm, bó chổi, buôn bán rau củ tại chợ gần nhà để cải thiện thu nhập.

Theo ông Mích, trước đây khi cuộc sống còn nhiều khó khăn, gia đình được tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi dành cho hộ Khmer để phát triển sản xuất, đồng thời được hỗ trợ thẻ bảo hiểm y tế, miễn giảm học phí cho hai con, được hưởng các chính sách về điện lưới và nước sạch. Những hỗ trợ này đã giúp gia đình giảm bớt gánh nặng chi phí, yên tâm lao động sản xuất. Khoảng 5 năm trở lại đây, khi kinh tế dần ổn định, gia đình đã xây dựng căn nhà mới với kinh phí khoảng 400 triệu đồng, đồng thời trang bị thêm các thiết bị sinh hoạt thiết yếu, đời sống hằng ngày tiện nghi, đầy đủ hơn.

Ông Mích cũng cho biết, những năm gần đây, hệ thống hạ tầng tại địa phương như giao thông, trường học, chùa Khmer được đầu tư ngày càng khang trang, qua đó nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân. Đáng chú ý, một số chùa còn trang bị dàn nhạc ngũ âm, góp phần phục vụ đời sống văn hóa tinh thần và gìn giữ các giá trị truyền thống của đồng bào Khmer.

*Hạ tầng, an sinh thúc đẩy phát triển bền vững

Ông Danh Hùng, người có uy tín trong đồng bào Khmer xã Giang Thành cho biết, trên địa bàn xã hiện có hơn 400 hộ Khmer với hơn 1.200 nhân khẩu. Những năm gần đây, nhờ sự quan tâm đầu tư của chính quyền địa phương nên hạ tầng giao thông, trường học, trạm y tế được hoàn thiện giúp việc đi lại, giao thương hàng hóa, học tập của đồng bào Khmer nói riêng, người dân nói chung được thuận lợi, dễ dàng hơn.

Cùng với đó, nhiều chính sách hỗ trợ thiết thực như hỗ trợ nhà ở, đất ở, bảo hiểm y tế, vay vốn ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách xã hội, đào tạo và giới thiệu việc làm… đã góp phần giảm nghèo, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số tại địa phương.

Nhiều người Khmer đã mạnh dạn đầu tư, phát triển mô hình chăn nuôi gà tập trung mang lại thu nhập ổn định. 
Ảnh: Công Mạo - TTXVN

“So với nhiều năm trước, những năm gần đây đời sống, kinh tế của đồng bào Khmer trên địa bàn xã không ngừng được nâng cao. Tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo giảm mạnh, số người thất nghiệp cũng giảm đáng kể. Ý thức, trách nhiệm về xây dựng đời sống văn hóa, cộng đồng, tự hào về quê hương, đất nước và tinh thần đoàn kết toàn dân tộc trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã được nâng lên rõ rệt”, ông Danh Hùng thông tin thêm.

Theo ông Ngô Công Thức, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang, tỉnh hiện có hơn 109.000 hộ dân tộc Khmer, với hơn 364.000 người, chiếm trên 8% dân số của tỉnh; trong đó có hơn 2.500 hộ nghèo và hơn 3.000 hộ cận nghèo. Đồng bào dân tộc Khmer trong tỉnh luôn có tinh thần yêu nước, phát huy truyền thống cách mạng, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, đoàn kết, gắn bó cùng với các dân tộc trên địa bàn. Bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát huy; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tiếp tục được ổn định.

Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang cho biết, thời gian tới tỉnh tiếp tục cụ thể hóa các nghị quyết của Đại hội Đảng bộ tỉnh vào thực tiễn cuộc sống; quan tâm sâu sắc đến đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào Khmer; đẩy mạnh đầu tư hạ tầng, phát triển giáo dục, y tế; tạo sinh kế bền vững; đồng thời bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của đồng bào.

Tỉnh thực hiện tốt các chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước, nhất là Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035; xây dựng đời sống văn hóa, nông thôn mới, đô thị văn minh, gắn với việc bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống, thúc đẩy mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội của đồng bào dân tộc Khmer phát triển.

Cùng với đó, tỉnh tiếp tục tuyên truyền, giáo dục, động viên để đồng bào dân tộc Khmer chấp hành tốt các chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tạo sự phấn khởi, tin tưởng, yên tâm, tích cực lao động sản xuất, kinh doanh; tuyên truyền cho đồng bào áp dụng tiến bộ khoa học để nâng cao sinh kế, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần.

Các cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội gần dân, nắm chắc tâm tư, nguyện vọng và kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc của nhân dân, nhất là trong đồng bào dân tộc thiểu số; tập trung giải quyết kịp thời, đúng pháp luật các vụ khiếu kiện, tranh chấp ngay tại cơ sở, không để kéo dài; tăng cường, củng cố quốc phòng - an ninh, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội trong vùng đồng bào dân tộc.

Tỉnh quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, xây dựng hệ thống chính trị vùng đồng bào dân tộc vững mạnh, đặc biệt quan tâm và thực hiện tốt công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí và sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức là người dân tộc Khmer, gắn với quy hoạch tạo nguồn phát triển đảng viên; xây dựng phum, sóc ngày càng giàu, đẹp, văn minh.

Đặc biệt, tỉnh phát huy vai trò của nhân sỹ, trí thức, người có uy tín, các chức sắc trong đồng bào dân tộc Khmer tham gia giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn; thường xuyên củng cố tình đoàn kết giữa các dân tộc anh em; đề cao cảnh giác và đấu tranh với âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang Ngô Công Thức nhấn mạnh./.


Tin liên quan

Ba chương trình mục tiêu quốc gia: Đòn bẩy phát triển bền vững nông thôn và miền núi

Trong giai đoạn 2021–2025, việc triển khai đồng bộ ba Chương trình Mục tiêu quốc gia gồm: xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đã tạo ra những chuyển biến toàn diện, sâu sắc đối với khu vực nông thôn, vùng khó khăn của cả nước. Không chỉ góp phần quan trọng vào cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng nhanh và bền vững, các chương trình còn làm thay đổi rõ nét diện mạo nông thôn, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của hàng chục triệu người dân.

Tin cùng chuyên mục

Việt Nam đặt mục tiêu phát triển 10.000 doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo vào năm 2030

Ngày 5/4/2026, Chính phủ đã ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Mục tiêu của Chiến lược là hình thành và lan tỏa sâu rộng làn sóng khởi nghiệp sáng tạo dựa trên nền tảng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong toàn xã hội; đưa khởi nghiệp sáng tạo trở thành một động lực quan trọng của tăng trưởng kinh tế-xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tăng cường năng lực tự chủ quốc gia, phát triển đất nước nhanh và bền vững; đưa Việt Nam trở thành quốc gia hàng đầu về khởi nghiệp sáng tạo trong khu vực. Đáng chú ý, Chiến lược phấn đấu đến năm 2030, chủ thể kinh doanh đạt 5 triệu, trong đó tối thiểu phát triển 10.000 doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo.

Chương trình vươn ra thị trường quốc tế giai đoạn 2026-2030

Phó Thủ tướng Nguyễn Chí Dũng vừa ký Quyết định số 626/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình vươn ra thị trường quốc tế giai đoạn 2026-2030. Theo Quyết định, Chương trình vươn ra thị trường quốc tế giai đoạn 2026 - 2030 (gọi tắt là Chương trình) được xây dựng theo định hướng tập trung giải quyết các điểm nghẽn về thể chế, chính sách để khuyến khích, tạo thuận lợi và kiểm soát rủi ro đối với hoạt động đầu tư, kinh doanh của doanh nghiệp tại thị trường nước ngoài; bảo đảm cơ chế tiếp cận thị trường các nguồn lực (đầu tư, tài chính, hạ tầng, công nghệ, thông tin, nguồn nhân lực...) thông thoáng và thủ tục hành chính tinh gọn, tương thích với các nền kinh tế có sức cạnh tranh cao…

Khởi công tuyến đường sắt tốc độ cao liên vùng đầu tiên của Việt Nam

Sáng 12/4/2026, tại Quảng Ninh, Uỷ viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng đã dự Lễ khởi công xây dựng tuyến đường sắt tốc độ cao Hà Nội - Quảng Ninh, tuyến đường sắt tốc độ cao liên vùng đầu tiên của Việt Nam. Dự án sẽ hoàn thành vào cuối năm 2028, với tốc độ tối đa sẽ giúp rút ngắn thời gian di chuyển giữa 2 địa phương xuống 5-7 lần, chỉ còn khoảng 23 phút.

Đến năm 2045, tỷ lệ đô thị hóa Việt Nam thuộc nhóm trung bình cao của khu vực ASEAN và châu Á

Chính phủ ban hành Nghị quyết số 80/NQ-CP ngày 2/4/2026 sửa đổi, bổ sung, cập nhật Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 24/1/2022 về quy hoạch, xây dựng, quản lý và phát triển bền vững đô thị Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và Kết luận số 224-KL/TW ngày 08/12/2025 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TW (Chương trình). Theo Chương trình: Tầm nhìn đến năm 2045, tỷ lệ đô thị hoá thuộc nhóm trung bình cao của khu vực ASEAN và châu Á. Hệ thống đô thị liên kết thành mạng lưới đồng bộ, thống nhất, cân đối giữa các vùng, miền, có khả năng chống chịu, thích ứng với biến đổi khí hậu, phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, bảo vệ môi trường, kiến trúc tiêu biểu giàu bản sắc, xanh, hiện đại, thông minh. Xây dựng được ít nhất 5 đô thị đạt tầm cỡ quốc tế, giữ vai trò là đầu mối kết nối và phát triển với mạng lưới khu vực và quốc tế. Cơ cấu kinh tế khu vực đô thị phát triển theo hướng hiện đại với các ngành kinh tế xanh, kinh tế số chiếm tỉ trọng lớn.

Đến năm 2030, tỷ lệ đô thị hoá toàn quốc đạt trên 50%

Chính phủ ban hành Nghị quyết số 80/NQ-CP ngày 2/4/2026 sửa đổi, bổ sung, cập nhật Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 24/1/2022 về quy hoạch, xây dựng, quản lý và phát triển bền vững đô thị Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và Kết luận số 224-KL/TW ngày 08/12/2025 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TW (Chương trình). Chương trình phấn đấu tỷ lệ đô thị hoá toàn quốc đến năm 2025 đạt tối thiểu 45%, đến năm 2030 đạt trên 50%. Tỷ lệ đất xây dựng đô thị trên tổng diện tích đất tự nhiên đạt khoảng 1,5 - 1,9% vào năm 2025, đến năm 2030 đạt khoảng 1,9 - 2,3%.

Hợp tác xã đang từng bước khẳng định vai trò trong hệ sinh thái kinh tế quốc gia

Tại Việt Nam, khu vực kinh tế tập thể, nòng cốt là hợp tác xã đang từng bước khẳng định vai trò trong hệ sinh thái kinh tế quốc gia. Liên minh Hợp tác xã Việt Nam cho biết, tính đến tháng 3/2026, cả nước có khoảng 35.197 hợp tác xã với gần 7 triệu thành viên (bao gồm thành viên chính thức và thành viên liên kết); trong đó khu vực nông nghiệp chiếm 66,8% với 23.512 hợp tác xã tiếp tục giữ vai trò trụ cột trong xây dựng nông thôn mới, còn khu vực phi nông nghiệp có 11.685 hợp tác xã chiếm 33,2% hoạt động đa dạng trong các lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, vận tải và môi trường.

3 trụ cột chính trong kế hoạch chuyển đổi số của thành phố Hà Nội trong năm 2026

UBND thành phố Hà Nội vừa ban hành Kế hoạch số 131/KH-UBND về chuyển đổi số năm 2026, xác định rõ các mục tiêu, nhiệm vụ trên ba trụ cột chính quyền số, kinh tế số và xã hội số, với yêu cầu xuyên suốt là triển khai thực chất, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Kế hoạch số 131/KH-UBND tiếp tục khẳng định chuyển đổi số phải gắn chặt với cải cách hành chính, nâng cao chất lượng phục vụ người dân và doanh nghiệp, nhằm tạo chuyển biến rõ nét trong hình thành xã hội số của Thủ đô trong năm 2026.

Việt Nam – Trung Quốc: Nâng tầm gắn kết chiến lược hai nước

Nhận lời mời của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình và Phu nhân, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng Phu nhân và đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam sẽ thăm cấp Nhà nước đến Trung Quốc từ ngày 14 đến 17-4. Đây là chuyến thăm cấp Nhà nước đầu tiên của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trên cương vị lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước, diễn ra đúng một năm sau chuyến thăm cấp Nhà nước đến Việt Nam của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình (từ ngày 14 đến 15-4-2025).