Phát triển kinh tế tư nhân- Bài 1: Chính quyền hành động nhanh - quyết liệt
Nghị quyết 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân mở ra một giai đoạn mới trong tư duy và hành động phát triển kinh tế, khi khu vực tư nhân lần đầu tiên được xác định là “động lực quan trọng nhất” của nền kinh tế. Từ định hướng chiến lược đến chương trình hành động cụ thể tại TP. Hồ Chí Minh, hành trình đưa nghị quyết vào cuộc sống đang đặt ra yêu cầu cải cách đồng bộ, thu hẹp khoảng cách giữa chính sách và thực tiễn, để kinh tế tư nhân thực sự bứt phá và đóng vai trò dẫn dắt tăng trưởng.
Dự án nút giao An Phú là khu vực giao cắt của các trục giao thông huyết mạch như đường dẫn cao tốc Thành phố Hồ Chí Minh – Long Thành - Dầu Giây, trục Mai Chí Thọ, Lương Định Của và hệ thống kết nối khu vực cảng Cát Lái - Phú Hữu. Ảnh: Tiến Lực - TTXVN

Bài 1: Chính quyền hành động nhanh - quyết liệt

Với hơn một nửa số doanh nghiệp hiện có của cả nước đang tập trung trên địa bàn, TP. Hồ Chí Minh giữ vai trò đặc biệt trong hiện thực hóa các mục tiêu phát triển kinh tế tư nhân theo Nghị quyết 68-NQ/TW. Chỉ một thời gian ngắn sau khi nghị quyết được ban hành và mô hình chính quyền hai cấp đi vào hoạt động ổn định, TP. Hồ Chí Minh đã bắt tay triển khai các hành động cụ thể đưa nghị quyết vào cuộc sống.

Trong số 2 triệu doanh nghiệp tư nhân mà Nghị quyết 68-NQ/TW đề ra vào năm 2030, TP. Hồ Chí Minh đặt mục tiêu có 750.000 doanh nghiệp tư nhân hoạt động, đóng góp 55–58% GRDP và 50–55% tổng thu ngân sách, duy trì tốc độ tăng trưởng bình quân 10–12%/năm. Đến năm 2045, số doanh nghiệp tư nhân của thành phố dự kiến đạt từ 1.050.000 đến 1.250.000.

Đây là chỉ tiêu được TP. Hồ Chí Minh đề ra trong Quyết định số 2205/QĐ-UBND triển khai chương trình hành động của Thành ủy TP. Hồ Chí Minh về thực hiện Nghị quyết 68-NQ/TW ban hành tháng 10/2025. Văn bản này xác định rõ yêu cầu xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng, bảo đảm quyền tự do kinh doanh và quyền sở hữu tài sản hợp pháp của doanh nghiệp; coi phát triển kinh tế tư nhân là nhiệm vụ chiến lược, lâu dài.

Theo đó, Thành phố yêu cầu các sở, ngành và địa phương khẩn trương xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế tư nhân theo tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW. Mục tiêu là tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp an tâm đầu tư, mở rộng sản xuất, nhất là trong bối cảnh TP. Hồ Chí Minh định hướng trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo và đầu mối kết nối của khu vực phía Nam.

Một trong những trọng tâm là cải cách hành chính thực chất. Thành phố đặt mục tiêu cắt giảm ít nhất 30% thời gian xử lý thủ tục và 30% chi phí tuân thủ pháp luật; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn trong quản lý nhà nước. Các lĩnh vực gia nhập – rút lui khỏi thị trường, đất đai, đầu tư, xây dựng, thuế, hải quan, bảo hiểm, sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn và quy chuẩn được yêu cầu rà soát, minh bạch hóa quy trình.

Ông Nguyễn Văn Được, Chủ tịch UBND TP. Hồ Chí Minh nhiều lần nhấn mạnh, TP. Hồ Chí Minh có lợi thế để thu hút doanh nghiệp trong và ngoài nước đến đầu tư, kinh doanh nhưng nếu thủ tục hành chính rườm rà, doanh nghiệp sẽ sớm rời đi. Do đó, trong hầu hết các hội nghị đối thoại với cộng đồng doanh nghiệp, lãnh đạo Thành phố đều cam kết sẽ thúc đẩy chuyển đổi từ nền hành chính quản lý sang phục vụ; đồng thời yêu cầu lãnh đạo từ cấp sở, ngành đến công chức tại cơ sở phải thay đổi tư duy trong giải quyết thủ tục, xem doanh nghiệp, người dân là trung tâm để phục vụ.

Song song đó, TP. Hồ Chí Minh cũng tiếp tục kiến nghị Trung ương hoàn thiện khung chính sách về tài chính, thuế, kế toán và quản lý tài chính, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp và hộ kinh doanh chuyển đổi, mở rộng quy mô hoạt động. Việc thúc đẩy thay đổi nhận thức và tư duy kinh doanh cũng được đặt ra như một yêu cầu căn cơ, hướng đến hình thành cộng đồng doanh nghiệp hiện đại, có khả năng hội nhập sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Ông Nguyễn Ngọc Hòa, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp TP. Hồ Chí Minh (HUBA) cho rằng, điểm cốt lõi của Nghị quyết 68-NQ/TW nằm ở việc cụ thể hóa tinh thần “quan trọng nhất” bằng cơ chế phân bổ nguồn lực và giao nhiệm vụ phù hợp. Chỉ khi khu vực tư nhân thực sự được tiếp cận bình đẳng về đất đai, tín dụng, cơ hội đầu tư và thông tin thị trường thì vai trò động lực mới được phát huy đầy đủ. Thời gian qua, lãnh đạo lãnh đạo thành phố và các sở, ngành đã tập trung tháo gỡ các điểm nghẽn lớn nhất của khu vực tư nhân: đất đai, vốn và nhân lực chất lượng cao. Nhiều dự án chậm triển khai do vướng mắc pháp lý đã được rà soát, tổng hợp và kiến nghị cấp có thẩm quyền xử lý. Các mô hình hợp tác công – tư được thúc đẩy mạnh mẽ hơn, mở ra cơ hội để doanh nghiệp tham gia các dự án hạ tầng, năng lượng, công nghệ thông tin, đường sắt đô thị và công nghiệp mũi nhọn.

Cùng với đó, cơ chế hỗ trợ lãi suất đối với các dự án đầu tư thuộc lĩnh vực ưu tiên phát triển kinh tế – xã hội tiếp tục được duy trì. Các chính sách miễn thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp đối với hoạt động khởi nghiệp đổi mới sáng tạo có phát sinh thu nhập được triển khai, tạo động lực cho hệ sinh thái khởi nghiệp.

Theo ông Nguyễn Ngọc Hòa, song song với Nghị quyết 68-NQ/TW, TP. Hồ Chí Minh cũng đẩy mạnh việc thực hiện Nghị quyết 98/2023/QH15 của Quốc hội về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển TP. Hồ Chí Minh. Theo đó, thành phố triển khai chính sách vay kích cầu phục vụ chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, truy xuất nguồn gốc. Doanh nghiệp đầu tư vào logistics, hệ thống kho lạnh, kho đông có thể được hỗ trợ lãi suất 50%, qua đó giảm chi phí, nâng cao năng lực quản trị chuỗi cung ứng và tăng sức cạnh tranh.

Ông Nguyễn Đặng Hiến, Tổng Giám đốc Công ty TNHH Sản xuất và Thương mại Tân Quang Minh (Bidrico), đánh giá các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp từ Trung ương đến địa phương trong thời gian qua cho thấy định hướng tái cấu trúc mô hình tăng trưởng theo chiều sâu. Khi chuyển đổi số và phát triển bền vững được đặt làm trục chính, khu vực kinh tế tư nhân có cơ hội nâng cao giá trị gia tăng thay vì chỉ phát triển quy mô theo chiều rộng.

Trước khi có Nghị quyết 68-NQ/TW, TP. Hồ Chí Minh cũng đã chủ động triển khai các giải pháp cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh; xây dựng kế hoạch cải thiện Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), rà soát và tháo gỡ khó khăn pháp lý cho dự án đầu tư. Những bước đi này tạo tiền đề quan trọng để Nghị quyết 68-NQ/TW khi được ban hành, nhanh chóng đi vào cuộc sống.

Các doanh nghiệp cho rằng, từ nghị quyết đến hành động là chặng đường đòi hỏi quyết tâm chính trị cao, sự phối hợp đồng bộ và cơ chế thực thi hiệu quả. Với vai trò đầu tàu kinh tế, TP. Hồ Chí Minh đang cho thấy nỗ lực cụ thể hóa tinh thần cải cách, nhằm tạo môi trường thuận lợi nhất cho khu vực kinh tế tư nhân phát triển nhanh, bền vững và thực sự trở thành động lực chủ đạo của tăng trưởng./.

Xuân Anh

Bài cuối: Rút ngắn khoảng cách chính sách và thực tế

Tin liên quan

Lực đẩy mới cho kinh tế tư nhân Đồng bằng sông Cửu Long

Liên kết vùng không chỉ là định hướng chiến lược mà ngày càng được xác định là giải pháp then chốt nhằm khắc phục tình trạng phát triển cục bộ, manh mún, tạo “lực đẩy” giúp doanh nghiệp mở rộng quy mô, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị quốc gia và quốc tế.

Thực hiện “5 thông”, “5 tiên phong” để phát triển kinh tế tư nhân

Chủ trì phiên họp thứ 4 của Ban Chỉ đạo quốc gia triển khai Nghị quyết số 68 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, Thủ tướng Phạm Minh Chính yêu cầu các cơ quan Nhà nước phải thực hiện 5 thông đối với Doanh nghiệp; còn Doanh nghiệp phải thực hiện 5 tiên phong để kinh tế tư nhân thực sự trở thành động lực quan trọng nhất của nền kinh tế.

Nghị quyết số 68-NQ/TW tác động sâu rộng tới toàn bộ nền kinh tế

Tại Phiên họp lần thứ tư của Ban Chỉ đạo quốc gia triển khai Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân (Ban Chỉ đạo) vào sáng 31/1/2026, Ban Chỉ đạo đánh giá, sau 8 tháng Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 68-NQ/TW, tác động của Nghị quyết bước đầu thể hiện qua sự gia tăng mạnh mẽ số lượng doanh nghiệp, hộ kinh doanh gia nhập, tái gia nhập thị trường; diễn biến tích cực trên thị trường chứng khoán; sự khởi sắc của hoạt động xuất nhập khẩu và đóng góp ngày càng lớn hơn của khu vực kinh tế tư nhân vào thu ngân sách nhà nước.

Nhà nước thực hiện “5 thông”, doanh nghiệp thực hiện “5 tiên phong” để phát triển kinh tế tư nhân

Kết luận Phiên họp lần thứ tư của Ban Chỉ đạo quốc gia triển khai Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân (Ban Chỉ đạo) vào sáng 31/1/2026, Thủ tướng Phạm Minh Chính, Trưởng Ban Chỉ đạo yêu cầu các cơ quan Nhà nước thực hiện "5 thông" đối với doanh nghiệp; đồng thời doanh nghiệp thực hiện "5 tiên phong" để kinh tế tư nhân thực sự trở thành động lực quan trọng nhất của nền kinh tế.

Các nghị quyết chiến lược đưa đất nước vững bước tiến mạnh vào kỷ nguyên phát triển mới

Từ tháng 12/2024 đến nay, Bộ Chính trị ban hành liên tiếp 9 nghị quyết chiến lược, tập trung vào các lĩnh vực then chốt của phát triển đất nước, gồm: Nghị quyết số 57-NQ/TW về Đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết số 59-NQ/TW về Hội nhập quốc tế trong tình hình mới; Nghị quyết số 66-NQ/TW về Đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới; Nghị quyết số 68-NQ/TW về Phát triển kinh tế tư nhân; Nghị quyết số 70-NQ/TW về Bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; Nghị quyết số 71-NQ/TW về Đột phá phát triển giáo dục và đào tạo; Nghị quyết số 72-NQ/TW về Một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân; Nghị quyết 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước; Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hoá Việt Nam.

Tin cùng chuyên mục

Phát triển kinh tế tư nhân - Bài cuối: Rút ngắn khoảng cách chính sách và thực tế

Nhà nước đã đề ra định hướng chiến lược và những mục tiêu rất cụ thể cho phát triển kinh tế tư nhân, nhưng thách thức lớn nhất hiện nay là bảo đảm các chính sách được triển khai đồng bộ và phát huy hiệu quả trong thực tế. Cộng đồng doanh nghiệp TP. Hồ Chí Minh đặt nhiều kỳ vọng vào các chương trình hành động của Trung ương và địa phương, song cũng thẳng thắn nhìn nhận vai trò chủ động của địa phương trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh, hấp thụ chính sách.

Khơi thông dòng chảy năng lượng xanh - sạch phục vụ tăng trưởng kinh tế

Kế hoạch phát triển ngành công thương giai đoạn 2026-2030, Sở Công Thương TP. Hồ Chí Minh xác định lĩnh vực năng lượng là một trong những động lực tăng trưởng quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội, nhất là nền tảng cho sản xuất công nghiệp phát triển và hội nhập quốc tế. Do đó, ngành công thương thành phố sẽ tập trung đẩy mạnh năng lượng xanh - sạch và ứng dụng mới, cùng công nghệ lưu trữ năng lượng và giải pháp phát triển năng lượng xanh phục vụ cho tăng trưởng kinh tế.

Đối ngoại và hội nhập quốc tế phải là nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên”

Bài viết của Tổng Bí thư Tô Lâm "ĐẨY MẠNH ĐỐI NGOẠI TOÀN DIỆN Ở TẦM CAO MỚI" nhấn mạnh: Đối ngoại toàn diện ở tầm cao mới là sự kết hợp giữa kế thừa và phát triển. Đối ngoại tiếp tục kiên định: đường lối độc lập, tự chủ, tự cường, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại; là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Đồng thời nền đối ngoại Việt Nam tiếp tục phát triển, tiếp thu những tinh hoa, tri thức và phương pháp của ngoại giao hiện đại, thấm nhuần tinh thần “dĩ bất biến ứng vạn biến”. Con đường hòa bình, độc lập, tự chủ, tự cường không chỉ để xây dựng một đất nước giàu mạnh cho nhân dân mình mà còn để đóng góp có trách nhiệm cho hòa bình, ổn định của khu vực và trật tự thế giới dựa trên luật pháp. Đó là kim chỉ nam, là nền tảng đạo lý và là nguyên tắc cơ bản để chúng ta xây dựng các mối quan hệ đối ngoại bền vững...

Mọi hoạt động đối ngoại đều hướng đến mục tiêu bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc, vì Đảng vững mạnh, vì nước Việt Nam giàu mạnh

Bài viết của Tổng Bí thư Tô Lâm "ĐẨY MẠNH ĐỐI NGOẠI TOÀN DIỆN Ở TẦM CAO MỚI" nêu rõ: Mọi hoạt động đối ngoại đều hướng đến mục tiêu bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc, vì Đảng vững mạnh, vì nước Việt Nam giàu mạnh, vì ấm no, hạnh phúc của nhân dân; hội nhập sâu rộng và có vị trí, vai trò quan trọng trong nền chính trị thế giới, nền kinh tế toàn cầu và nền văn minh nhân loại, đóng góp vào hòa bình, ổn định, công bằng, tiến bộ xã hội và sự phát triển phồn vinh của các dân tộc trong khu vực và trên thế giới. Đối ngoại không phải là lĩnh vực riêng rẽ mà gắn kết chặt chẽ giữa đối ngoại với quốc phòng, an ninh, kinh tế, khoa học, công nghệ và văn hóa, xã hội, tạo sức mạnh tổng hợp phục vụ công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đường lối đối ngoại toàn diện đặt phát triển kinh tế – xã hội làm trọng tâm, coi ngoại giao phục vụ phát triển và hội nhập quốc tế là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên. Đối ngoại toàn diện là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, phát huy vai trò của cả ba kênh đối ngoại: đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước, đối ngoại Nhân dân, đồng thời huy động sự tham gia của đối ngoại Quốc hội, các bộ, ban, ngành và địa phương; giữa đối ngoại với quốc phòng, an ninh và giữa ngoại giao chính trị với ngoại giao kinh tế, văn hóa, khoa học, công nghệ…

Kỷ nguyên mới đòi hỏi phải triển khai “đối ngoại toàn diện ở tầm cao mới”

Bài viết của Tổng Bí thư Tô Lâm "ĐẨY MẠNH ĐỐI NGOẠI TOÀN DIỆN Ở TẦM CAO MỚI" nhấn mạnh: Đứng trước những thời khắc lịch sử, đất nước cần có những quyết sách lịch sử. Kỷ nguyên mới đòi hỏi phải triển khai “đối ngoại toàn diện ở tầm cao mới”: Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia dân tộc; lấy hòa bình, độc lập, tự chủ, tự cường là nền tảng; đặt người dân là trung tâm của mọi chính sách; coi đóng góp cho cộng đồng quốc tế là trách nhiệm. Ở tầm cao mới, đối ngoại sẽ được triển khai một cách tự tin, tự chủ, tự lực, tự cường hơn; đóng góp hiệu quả hơn vào những mục tiêu chiến lược của đất nước; thể hiện trách nhiệm lớn hơn đối với hòa bình và phát triển của thế giới.

Tết nơi xóm trọ

Giữa những con hẻm nhỏ, Tết đến không bằng pháo hoa hay đèn màu, mà bằng những bàn tay chìa ra đúng lúc, nhắc người xa quê rằng họ vẫn có một nơi để quay về.