Tăng trưởng hai con số - tạo bước nhảy vọt về quy mô, năng lực và vị thế của nền kinh tế
Mục tiêu tăng trưởng cao, hướng tới hai con số trong giai đoạn 2026-2030 là khát vọng chính đáng, xuất phát từ yêu cầu khách quan của tiến trình phát triển đất nước.
Chuyên gia kinh tế, TS. Nguyễn Bích Lâm, nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê (nay là Cục Thống kê, Bộ Tài chính). Ảnh: Thúy Hiền

Đại hội XIV của Đảng xác lập mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao, hướng tới hai con số trong giai đoạn 2026-2030, đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đổi mới mạnh mẽ tư duy phát triển và phương thức tổ chức thực hiện. Phóng viên TTXVN đã có cuộc trao đổi với chuyên gia kinh tế, TS. Nguyễn Bích Lâm, nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (nay là Cục Thống kê, Bộ Tài chính) xung quanh việc phân tích những điều kiện nền tảng, cảnh báo các rủi ro của tăng trưởng; đồng thời, đưa ra các định hướng, giải pháp chính sách trọng tâm nhằm bảo đảm tăng trưởng cao đi đôi với ổn định và bền vững trong giai đoạn tới.

Phóng viên: Đại hội XIV của Đảng đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao, hướng tới hai con số trong giai đoạn 2026-2030. Ông nghĩ sao về mục tiêu này?

Chuyên gia Nguyễn Bích Lâm: Mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao, hướng tới hai con số trong giai đoạn 2026-2030 là khát vọng chính đáng, xuất phát từ yêu cầu khách quan của tiến trình phát triển đất nước. Sau 40 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu quan trọng về tăng trưởng, ổn định kinh tế vĩ mô, hội nhập quốc tế và cải thiện đời sống nhân dân.

Tuy nhiên, nền kinh tế hiện đang bước vào giai đoạn phát triển mới, khi dư địa tăng trưởng theo chiều rộng dần thu hẹp, trong khi yêu cầu nâng cao chất lượng, năng suất và sức cạnh tranh ngày càng trở nên cấp bách.

Thực tiễn quốc tế cho thấy, để chuyển từ nhóm nước thu nhập trung bình lên nhóm nước thu nhập cao, các nền kinh tế thường phải trải qua những giai đoạn tăng trưởng nhanh, liên tục, có chất lượng. Nếu tăng trưởng chậm lại quá sớm, nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình là hiện hữu. Trong bối cảnh đó, việc đặt mục tiêu tăng trưởng cao không chỉ thể hiện khát vọng phát triển, mà còn là yêu cầu chiến lược nhằm tạo bước nhảy vọt về quy mô, năng lực và vị thế của nền kinh tế.

Nền kinh tế hiện đang bước vào giai đoạn phát triển mới, khi dư địa tăng trưởng theo chiều rộng dần thu hẹp. Ảnh minh họa

Bên cạnh đó, bối cảnh quốc tế đang mở ra những cơ hội mới thông qua tái cấu trúc chuỗi giá trị toàn cầu, chuyển đổi số, chuyển dịch xanh và sự phát triển nhanh của khoa học công nghệ.

Nếu tận dụng hiệu quả các cơ hội này, Việt Nam có thể hình thành các động lực tăng trưởng mới, bền vững hơn. Vì vậy, mục tiêu tăng trưởng cao trong giai đoạn tới là phù hợp với yêu cầu phát triển và bối cảnh mới.

Phóng viên: Tuy nhiên, tăng trưởng hai con số cũng được đánh giá là rất thách thức. Theo ông, những rủi ro nào có thể phát sinh nếu theo đuổi tăng trưởng cao bằng mọi giá?

Chuyên gia Nguyễn Bích Lâm: Tăng trưởng cao mang lại nhiều cơ hội, nhưng nếu theo đuổi bằng mọi giá, không gắn với năng lực thực chất của nền kinh tế, rủi ro là không nhỏ. Trước hết là nguy cơ lệch pha phát triển. Khi tốc độ tăng trưởng bị đẩy nhanh hơn khả năng quản trị và hấp thụ của nền kinh tế, các nguồn lực có thể bị phân bổ méo mó, tập trung vào những lĩnh vực tạo tăng trưởng ngắn hạn nhưng tiềm ẩn rủi ro cao, như bất động sản, tài chính hoặc đầu tư công dàn trải.

Thứ hai, tăng trưởng bằng mọi giá có thể làm suy yếu nền tảng ổn định kinh tế vĩ mô. Việc nới lỏng quá mức chính sách tài khóa và tiền tệ để kích thích tăng trưởng trong ngắn hạn có thể dẫn đến lạm phát cao, gia tăng thâm hụt ngân sách, nợ công và áp lực tỷ giá. Những bất ổn này, nếu tích tụ, sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến niềm tin của nhà đầu tư và triển vọng tăng trưởng trung, dài hạn.

Thứ ba, chất lượng tăng trưởng có nguy cơ suy giảm. Nếu tăng trưởng chủ yếu dựa vào mở rộng đầu tư, khai thác tài nguyên hoặc sử dụng lao động giá rẻ, nền kinh tế sẽ khó nâng cao năng suất và sức cạnh tranh. Khi các động lực này suy yếu, nền kinh tế có thể đối mặt với những cú điều chỉnh mạnh, thậm chí suy thoái. Vì vậy, tăng trưởng cao cần được đặt trong khuôn khổ kỷ luật vĩ mô, kiểm soát rủi ro và gắn chặt với nâng cao năng lực nội sinh.

Chuyển đổi mô hình tăng trưởng là yêu cầu mang tính quyết định để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng cao. Ảnh minh họa

Phóng viên: Ông đánh giá như thế nào về các "độ trễ năng lực" của nền kinh tế trong việc hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững?

Chuyên gia Nguyễn Bích Lâm: Nhận diện đúng các độ trễ năng lực là điều kiện tiên quyết để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững. Hiện nay, nền kinh tế nước ta đang đối mặt với một số độ trễ đáng chú ý.

Trước hết là độ trễ về nguồn nhân lực chất lượng cao. Dù lực lượng lao động dồi dào, nhưng chất lượng nhân lực, nhất là trong các lĩnh vực công nghệ cao, kinh tế số, quản trị hiện đại, đổi mới sáng tạo, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh. Khoảng cách giữa đào tạo và nhu cầu thị trường còn lớn, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và khả năng chuyển đổi mô hình tăng trưởng

Thứ hai là độ trễ của khu vực doanh nghiệp trong nước. Phần lớn doanh nghiệp có quy mô nhỏ, năng lực tài chính, công nghệ, quản trị còn hạn chế; khả năng tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu còn yếu. Liên kết giữa doanh nghiệp trong nước với nhau và với khu vực FDI chưa đủ chặt chẽ để tạo ra hiệu ứng lan tỏa mạnh về công nghệ và năng suất.

Bên cạnh đó là độ trễ về thể chế và thị trường. Mặc dù, môi trường kinh doanh đã được cải thiện, song vẫn còn rào cản về thủ tục hành chính, chi phí tuân thủ và rủi ro pháp lý. Thị trường vốn, đặc biệt là vốn trung và dài hạn, chưa phát triển tương xứng, hạn chế khả năng huy động và phân bổ hiệu quả nguồn lực.

Cuối cùng là độ trễ về năng lực quản trị và điều hành trong bối cảnh kinh tế thế giới ngày càng phức tạp, biến động nhanh, kinh tế Việt Nam có độ mở lớn. Nếu không nâng cao năng lực dự báo, phân tích và phản ứng chính sách, việc điều hành tăng trưởng cao sẽ tiềm ẩn nhiều rủi ro.

Phóng viên: Từ các độ trễ năng lực đã được nhận diện, theo ông, chuyển đổi mô hình tăng trưởng cần được thực hiện như thế nào để bảo đảm tăng trưởng cao, bền vững giai đoạn 2026-2030?

Chuyên gia Nguyễn Bích Lâm: Chuyển đổi mô hình tăng trưởng là yêu cầu mang tính quyết định để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng cao, bền vững giai đoạn 2026-2030. Mô hình tăng trưởng mới phải chuyển dứt khoát từ phụ thuộc vào vốn, lao động và khai thác tài nguyên sang dựa chủ yếu vào năng suất, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chất lượng nguồn nhân lực.

Trọng tâm của quá trình này là nâng cao năng suất các nhân tố tổng hợp, phát triển mạnh công nghiệp chế biến, chế tạo hiện đại, kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế tri thức; đồng thời cơ cấu lại đầu tư theo hướng nâng cao hiệu quả, giảm dàn trải, kiểm soát chặt rủi ro.

Chỉ khi chuyển đổi mô hình tăng trưởng được triển khai một cách quyết liệt, nhất quán và có lộ trình rõ ràng, nền kinh tế mới hình thành được các động lực tăng trưởng mới, đủ sức nâng đỡ mục tiêu tăng trưởng cao đi đôi với ổn định và phát triển bền vững trong giai đoạn tới.

Phóng viên: Theo ông, phương hướng và các nhóm giải pháp trọng tâm nào cần được triển khai để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng cao, bền vững giai đoạn 2026-2030?

Chuyên gia Nguyễn Bích Lâm: Về phương hướng chung, tăng trưởng cao trong giai đoạn 2026-2030 cần được đặt trên nền tảng phát triển bền vững, gắn với ổn định kinh tế vĩ mô và nâng cao năng lực nội sinh. Trọng tâm là chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo chiều sâu, dựa trên năng suất, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chất lượng nguồn nhân lực.

Đại hội XIV của Đảng đã xác định 3 đột phá chiến lược cần tập trung trong giai đoạn 2026-2030, gồm đột phá mạnh mẽ về thể chế phát triển, nâng cao năng lực hoạch định và tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Bên cạnh đó là chuyển đổi cơ cấu và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao; góp phần nâng cao năng suất, chất lượng lao động; đẩy mạnh thu hút và trọng dụng nhân tài; khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.

Đột phá cuối cùng là xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, nhất là kết cấu hạ tầng giao thông đa phương thức; hạ tầng công nghệ phục vụ cho quá trình quản lý, quản trị và kiến tạo phát triển; hạ tầng phục vụ chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, thích ứng với biến đổi khí hậu; hạ tầng văn hóa, giáo dục, thể thao.

Trên cơ sở ba đột phá chiến lược, Quốc hội và Chính phủ cần triển khai đồng bộ năm nhóm giải pháp trọng tâm. Trước hết và quan trọng nhất cần đẩy mạnh cải cách thể chế, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường hiện đại, minh bạch, ổn định, giảm chi phí tuân thủ và khơi thông các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển.

Cùng với đó, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và năng suất lao động, gắn cải cách giáo dục đào tạo với yêu cầu của kinh tế số và công nghiệp hiện đại; thúc đẩy khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo; đẩy mạnh tái cơ cấu mô hình tăng trưởng, ưu tiên phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo hiện đại, kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tri thức; nâng cao hiệu quả đầu tư công và kiểm soát rủi ro từ phát triển nóng.

Bên cạnh đó, phát triển khu vực doanh nghiệp trong nước và thị trường vốn, hỗ trợ doanh nghiệp nâng cấp năng lực, mở rộng quy mô, tăng khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu; phát triển thị trường vốn trung và dài hạn lành mạnh.

Giữ vững ổn định vĩ mô, nâng cao năng lực điều hành; hiện thực hoá các quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, bảo đảm kỷ luật tài khóa tiền tệ và chất lượng dự báo, quản trị rủi ro.

Tôi cho rằng, nếu các phương hướng và giải pháp này được triển khai đồng bộ, quyết liệt, nhất quán và hiệu quả, mục tiêu tăng trưởng cao, bền vững giai đoạn 2026 - 2030 có cơ sở vững chắc để hiện thực hóa.

Phóng viên: Xin cám ơn ông!

Tin liên quan

Tín dụng chính sách tiếp sức tạo việc làm

Tín dụng chính sách đã trở thành “đòn bẩy” quan trọng, tạo điều kiện cho người dân trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long tiếp cận nguồn vốn ưu đãi để phát triển sản xuất, kinh doanh; trong đó, nguồn vốn vay giải quyết việc làm phát huy hiệu quả rõ nét, giúp người lao động, nhất là lao động nông thôn và các hộ gia đình khó khăn mở hướng làm ăn, nâng cao thu nhập. Thông qua việc sử dụng vốn hiệu quả, gắn với các mô hình sản xuất, kinh doanh phù hợp, nhiều gia đình từng bước ổn định đời sống, vươn lên phát triển kinh tế, góp phần giảm nghèo bền vững và thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh.

Ba giải pháp nâng hạng tín nhiệm quốc gia Việt Nam

Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần Quốc Phương cho biết: Hướng tới mục tiêu đưa Việt Nam đạt xếp hạng tín nhiệm mức “Đầu tư”, Bộ Tài chính sẽ tập trung triển khai đồng bộ ba nhóm giải pháp trọng tâm, từ quản lý an toàn nợ công, ổn định kinh tế vĩ mô đến tăng cường phối hợp với các tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế.

Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo đẩy mạnh một số nhiệm vụ trọng tâm thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2026

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính vừa ký Công điện số 06/CĐ-TTg ngày 24/1/2026 về việc đẩy mạnh một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm nhằm thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2026. Thủ tướng yêu cầu Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan khẩn trương xây dựng Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, trình Chính phủ trước ngày 5/2/2026; tiếp tục thực hiện chính sách tài khóa mở rộng hợp lý, có trọng tâm, trọng điểm, phối hợp chặt chẽ, hiệu quả với chính sách tiền tệ và các chính sách vĩ mô khác; điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, kịp thời, bảo đảm các cân đối lớn; Thúc đẩy và làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống (đầu tư, tiêu dùng, xuất khẩu); Khai thác, tạo đột phá cho các động lực tăng trưởng mới…

Tin cùng chuyên mục

Tổng Bí thư Tô Lâm gặp mặt, chúc Tết công nhân ngành Than

Đến thăm Vùng mỏ Quảng Ninh, thăm hỏi, động viên anh chị em công nhân đang làm việc trên khai trường, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh, Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân, đại biểu cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc. Sức mạnh của Đảng bắt nguồn từ mối liên hệ máu thịt với giai cấp công nhân và nhân dân lao động.

Những cốt lõi trong công tác xây dựng văn kiện: Tinh thần cầu thị, khoa học, hành động

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV Đảng Cộng sản Việt Nam đã khai mạc trọng thể tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia, Thủ đô Hà Nội sáng 20/1/2026. Tại phiên khai mạc Đại hội, đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm, Trưởng Tiểu ban Văn kiện trình bày Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII về các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng. Báo cáo nêu rõ: Những cốt lõi trong công tác xây dựng văn kiện: Tinh thần cầu thị, khoa học, hành động. Thứ nhất: Trung thành tuyệt đối với đường lối, Cương lĩnh của Đảng, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kế thừa và phát huy truyền thống nghìn năm văn hiến của dân tộc, thành quả, trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trên con đường xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Thứ hai: Văn kiện lần này được xây dựng theo phương châm: Bám sát thực tiễn, tôn trọng quy luật khách quan, kết tinh trí tuệ tập thể và phản ánh trung thực mong muốn, nguyện vọng của Nhân dân. Từng nhận định, từng mục tiêu, từng giải pháp đều được nghiên cứu kỹ, chắt lọc, xuất phát từ thực tiễn; coi hiệu quả và tính khả thi là tiêu chuẩn quan trọng…

Kịp thời cập nhật và bổ sung Chương trình hành động, kế hoạch thực hiện Nghị quyết Đại hội đảng bộ, chi bộ ở từng cấp

Thay mặt Bộ Chính trị, Tổng Bí thư Tô Lâm đã ký ban hành Chỉ thị của Bộ Chính trị về nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Chỉ thị số 01-CT/TW, ngày 23/1/2026). Chỉ thị nêu: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã thành công rất tốt đẹp. Đại hội đã thông qua Nghị quyết và các văn kiện Đại hội (sau đây gọi chung là Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng). Để Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng được triển khai ngay, đồng bộ, hiệu quả, thực chất, Bộ Chính trị yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng, các cấp, các ngành tập trung thực hiện tốt các nội dung.

Những nội dung nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng

Thay mặt Bộ Chính trị, Tổng Bí thư Tô Lâm đã ký ban hành Chỉ thị của Bộ Chính trị về nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Chỉ thị số 01-CT/TW, ngày 23/1/2026). Chỉ thị nêu: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã thành công rất tốt đẹp. Đại hội đã thông qua Nghị quyết và các văn kiện Đại hội (sau đây gọi chung là Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng). Để Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng được triển khai ngay, đồng bộ, hiệu quả, thực chất, Bộ Chính trị yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng, các cấp, các ngành tập trung thực hiện tốt các nội dung.

Tổ chức nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV: Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của năm 2026 và cả nhiệm kỳ

Thay mặt Bộ Chính trị, Tổng Bí thư Tô Lâm đã ký ban hành Chỉ thị của Bộ Chính trị về nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Chỉ thị số 01-CT/TW, ngày 23/1/2026). Chỉ thị nêu: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã thành công rất tốt đẹp. Đại hội đã thông qua Nghị quyết và các văn kiện Đại hội (sau đây gọi chung là Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng). Để Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng được triển khai ngay, đồng bộ, hiệu quả, thực chất, Bộ Chính trị yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng, các cấp, các ngành tập trung thực hiện tốt các nội dung.

Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo đẩy mạnh một số nhiệm vụ trọng tâm thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2026

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính vừa ký Công điện số 06/CĐ-TTg ngày 24/1/2026 về việc đẩy mạnh một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm nhằm thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2026. Thủ tướng yêu cầu Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan khẩn trương xây dựng Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, trình Chính phủ trước ngày 5/2/2026; tiếp tục thực hiện chính sách tài khóa mở rộng hợp lý, có trọng tâm, trọng điểm, phối hợp chặt chẽ, hiệu quả với chính sách tiền tệ và các chính sách vĩ mô khác; điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, kịp thời, bảo đảm các cân đối lớn; Thúc đẩy và làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống (đầu tư, tiêu dùng, xuất khẩu); Khai thác, tạo đột phá cho các động lực tăng trưởng mới…