Tiến trình cho nông nghiệp xanh
Nông nghiệp Việt Nam đang chuyển mạnh sang mô hình tăng trưởng xanh, bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu. Trong tiến trình này, việc phát triển và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật sinh học được xem là một giải pháp quan trọng nhằm giảm phụ thuộc vào hóa chất, bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng nông sản. Những chính sách mới được ban hành cùng xu hướng tiêu dùng toàn cầu đang mở ra cơ hội để thuốc bảo vệ thực vật sinh học trở thành cấu phần quan trọng trong nền nông nghiệp hiện đại.


Nông dân xã Ba Gia, tỉnh Quảng Ngãi thu hoạch dưa được trồng theo tiêu chuẩn nông nghiệp sạch.
 Ảnh: Hải Âu-TTXVN

Mới đây, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã ban hành Thông tư số 75/2025/TT-BNNMT, công bố danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép và cấm sử dụng tại Việt Nam. Trong số 17 hoạt chất mới được bổ sung, có tới 6 hoạt chất là thuốc bảo vệ thực vật sinh học, chiếm khoảng 37%. Tổng số thuốc bảo vệ thực vật sinh học được đăng ký bổ sung là 55 loại, tương đương hơn 8% tổng số thuốc được đăng ký mới. Đây là tín hiệu tích cực, phản ánh xu hướng gia tăng tỷ trọng các sản phẩm thân thiện môi trường trong hệ thống quản lý dịch hại, phù hợp với định hướng phát triển nông nghiệp xanh và bền vững.

Việc gia tăng số lượng thuốc bảo vệ thực vật sinh học trong danh mục là kết quả của quá trình hoàn thiện chính sách và triển khai nhiều chương trình thúc đẩy sản xuất, sử dụng các giải pháp thân thiện môi trường. Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã ban hành Đề án phát triển sản xuất và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật sinh học đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, đặt mục tiêu nâng tỷ lệ thuốc bảo vệ thực vật sinh học trong danh mục thuốc được phép sử dụng lên 30%, đồng thời tăng lượng sử dụng thuốc sinh học lên 30% so với tổng lượng thuốc bảo vệ thực vật sử dụng. Cùng với đó, xây dựng các mô hình ứng dụng trên những ngành hàng chủ lực như lúa, cà phê, hồ tiêu, chè, cây ăn quả, rau và sắn.

Song song với đó, Đề án phát triển quản lý sức khỏe cây trồng tổng hợp (IPHM) đến năm 2030 cũng đang được triển khai, nhằm thúc đẩy áp dụng các biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp, trong đó thuốc bảo vệ thực vật sinh học đóng vai trò quan trọng. Việc kết hợp các biện pháp sinh học với kỹ thuật canh tác tiên tiến và quản lý đồng ruộng sẽ góp phần giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường, đồng thời nâng cao hiệu quả sản xuất.

Thực tế cho thấy, Việt Nam đã từng bước hoàn thiện khung pháp lý và cải tiến thủ tục đăng ký thuốc bảo vệ thực vật theo hướng thông thoáng hơn, tạo điều kiện cho các sản phẩm sinh học tham gia thị trường. Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Quang Hiếu, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, quá trình phát triển thuốc bảo vệ thực vật sinh học vẫn còn một số khó khăn, đặc biệt là các yêu cầu kỹ thuật, quy trình khảo nghiệm và đánh giá hiệu lực sản phẩm. Trong thời gian tới, cơ quan quản lý sẽ tiếp tục rà soát, lắng nghe ý kiến từ doanh nghiệp, hiệp hội và các nhà khoa học, đồng thời tham khảo kinh nghiệm quốc tế để hoàn thiện chính sách, bảo đảm vừa quản lý hiệu quả, vừa tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển sản phẩm sinh học.

Một trong những thách thức hiện nay là sự tham gia của doanh nghiệp vào lĩnh vực này vẫn còn dè dặt. Nguyên nhân chủ yếu là chi phí nghiên cứu cao, thời gian đăng ký sản phẩm kéo dài và nhu cầu thị trường chưa thực sự ổn định. Theo Hội Doanh nghiệp Sản xuất và Kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật Việt Nam, một số quy định trước đây còn quá thận trọng so với thông lệ quốc tế, dẫn tới kéo dài thời gian và tăng chi phí cho doanh nghiệp, trong khi nhiều quốc gia đã có cơ chế thuận lợi hơn đối với thuốc sinh học nhờ đặc tính an toàn và thân thiện môi trường.

Ở góc độ sản xuất, việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật sinh học còn phụ thuộc nhiều vào tập quán canh tác và nhận thức của nông dân. Nhiều nông dân vẫn quen sử dụng thuốc hóa học do tác dụng nhanh, trong khi thuốc sinh học thường phát huy hiệu quả theo cơ chế sinh học và cần được sử dụng đúng quy trình để đạt hiệu quả tối ưu. Điều này đòi hỏi phải tăng cường công tác tuyên truyền, tập huấn và xây dựng các mô hình thực tiễn nhằm giúp nông dân hiểu rõ lợi ích lâu dài của các giải pháp sinh học.

Từ góc độ thị trường, thuốc bảo vệ thực vật sinh học đang cho thấy tiềm năng tăng trưởng lớn. Ông Tan Siang Hee, Giám đốc điều hành CropLife Châu Á, cho biết thị trường thuốc bảo vệ thực vật sinh học tại Việt Nam có tốc độ tăng trưởng trung bình khoảng 9% mỗi năm, gần gấp đôi so với thị trường thuốc bảo vệ thực vật nói chung.

Theo ông Tan Siang Hee, thuốc bảo vệ thực vật sinh học không phải là sự thay thế hoàn toàn thuốc hóa học, mà là một phần trong hệ thống giải pháp đa dạng giúp nông dân quản lý dịch hại hiệu quả, nâng cao khả năng chống chịu của cây trồng và bảo đảm tính bền vững của hệ thống sản xuất.

Xu hướng này cũng phù hợp với định hướng chung của khu vực và thế giới. Ông Phạm Quang Minh, đại diện Ban Thư ký ASEAN, nhận định thuốc bảo vệ thực vật sinh học đang trở thành một cấu phần quan trọng trong quản lý dịch hại tổng hợp, nông nghiệp thích ứng với biến đổi khí hậu và hệ thống lương thực, thực phẩm thân thiện môi trường. ASEAN đã khởi động Chương trình khung quản lý thuốc bảo vệ thực vật sinh học nhằm thúc đẩy hợp tác giữa các quốc gia, tổ chức quốc tế, khu vực tư nhân và các chuyên gia kỹ thuật, qua đó xây dựng hệ thống quản lý hiệu quả và tạo điều kiện cho các sản phẩm sinh học phát triển bền vững.

Để thúc đẩy phát triển thuốc bảo vệ thực vật sinh học, các chuyên gia cho rằng cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, từ hoàn thiện cơ chế, chính sách đến hỗ trợ doanh nghiệp và người sản xuất. Trong đó, việc xây dựng các chính sách ưu đãi thuế, hỗ trợ vay vốn và khuyến khích đầu tư sản xuất trong nước sẽ giúp thúc đẩy nghiên cứu và thương mại hóa sản phẩm sinh học. Đồng thời, cần tăng cường tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật và hỗ trợ nông dân tiếp cận các sản phẩm sinh học nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng và thay đổi tập quán canh tác./.


Tin liên quan

Nghị quyết 57-NQ/TW và nông nghiệp xanh– Bài 1: Nông dân đổi mới tư duy, mở lối làm giàu

Trong tiến trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng nông nghiệp theo hướng xanh, bền vững, Nghị quyết 57-NQ/TW của Trung ương về đột phá khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã mở ra cách tiếp cận mới cho ngành nông nghiệp, lấy khoa học công nghệ và dữ liệu số làm nền tảng tổ chức lại sản xuất. Tại Vĩnh Long, Nghị quyết 57-NQ/TW được cụ thể hóa bằng các mô hình sản xuất ngành hàng chủ lực, từ lúa chất lượng cao giảm phát thải đến phát triển vùng dừa hữu cơ theo hướng kinh tế tuần hoàn, thể hiện sự chuyển biến trong tư duy của nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp.

Nghị quyết 57-NQ/TW và nông nghiệp xanh – Bài 2: Sản xuất hữu cơ – hướng đi cho thủ phủ ngành dừa

Trong xu thế phát triển nông nghiệp bền vững gắn với kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn, sản xuất hữu cơ trở thành hướng đi tất yếu của nhiều địa phương. Tại Vĩnh Long- “thủ phủ” dừa của Việt Nam với hơn 120.000 ha, chiếm 65% diện tích dừa cả nước, địa phương đang tập trung phát triển các vùng nguyên liệu dừa hữu cơ gắn với ứng dụng khoa học- công nghệ, chuyển đổi số và liên kết chuỗi giá trị, nhằm nâng cao giá trị gia tăng và sức cạnh tranh cho ngành hàng chủ lực này.

Nghị quyết 57-NQ/TW và nông nghiệp xanh - Bài cuối: Dịch chuyển rõ nét từ các trụ cột

Từ các mô hình nông nghiệp thông minh, sản xuất lúa chất lượng cao giảm phát thải, đến phát triển dừa hữu cơ gắn với kinh tế tuần hoàn, có thể thấy nông nghiệp Vĩnh Long đang chuyển dịch rõ nét. Đây được xem là nền tảng quan trọng để địa phương tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng xanh, hiện đại, bền vững, phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW của Trung ương về đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong phát triển kinh tế – xã hội.

Tin cùng chuyên mục

Hình tượng ngựa trong văn hoá phương Đông

Trong dòng chảy văn hóa phương Đông, Ngựa không chỉ là loài vật gắn với chiến trận và đường xa, mà còn là biểu tượng của hành trình lập thân, khát vọng tiến lên và thành đạt.

Sắc màu văn hóa trong những thiết kế bao lì xì đầu xuân

Lì xì đầu năm từ lâu đã trở thành một nét đẹp văn hóa không thể thiếu trong Tết cổ truyền của người Việt Nam. Theo quan niệm dân gian, phong bao lì xì thường mang sắc đỏ, gam màu tượng trưng cho may mắn, cát tường. Thế nhưng, trong nhịp sống hiện đại, bao lì xì không còn chỉ dừng lại ở vai trò trao gửi tiền mừng tuổi. Ngày càng nhiều doanh nghiệp và cá nhân lựa chọn những mẫu lì xì được thiết kế riêng như một cách thể hiện gu thẩm mỹ, cá tính và thông điệp văn hóa. Vì vậy, mỗi phong bao dần trở thành món quà tinh thần, mang theo câu chuyện sáng tạo và dấu ấn riêng của các họa sĩ, nhà thiết kế đồ họa.

Vui Tết ở Trường Sa

Ngày Mùng 1 Tết đầu năm mới Bính Ngọ 2026 trên đặc khu Trường Sa, tỉnh Khánh Hòa đặc biệt bởi quân và dân trên các đảo thực hiện lễ chào cờ đầu năm và cùng tham gia các hoạt động văn hóa, văn nghệ. Dưới cột mốc chủ quyền, các lực lượng quân đội và nhân dân luôn quyết tâm bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc trong mọi tình huống.

Lễ chùa đầu năm – Nét đẹp văn hóa của người Việt

Mỗi độ Tết đến xuân về, cùng với phong tục chúc Tết, du xuân, thì đi lễ chùa đầu năm đã trở thành nét đẹp văn hóa tâm linh của người Việt. Trong không khí linh thiêng và thanh tịnh nơi cửa Phật, người dân gửi gắm những ước nguyện bình an, may mắn cho một năm mới đủ đầy.

Cảng Cát Lái phát lệnh làm hàng đầu năm

Trước thềm đón giao thừa năm mới Bính Ngọ, tại cảng Tân cảng Cát Lái, cảng container lớn và hiện đại nhất Việt Nam, Binh đoàn 20 - Tổng công ty Tân cảng Sài Gòn đã tổ chức phát lệnh làm hàng đầu năm .