![]() |
| Rừng phòng hộ ven biển góp phần ứng phó với biến đổi khí hậu, tạo sinh kế, tăng thu nhập cho người dân. Ảnh: TTXVN phát. |
Giữa những biến động khó lường của thời tiết cực đoan, nước biển dâng và áp lực phát triển kinh tế, An Giang tập trung nguồn lực, triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp chiến lược bảo vệ môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu. Qua đó, nhằm giảm thiểu tối đa thiệt hại do thiên tai, sạt lở đất, lốc xoáy, hạn mặn gây ra; bảo vệ nền sản xuất nông nghiệp phát triển an toàn, bền vững, hiệu quả; bảo tồn các hệ sinh thái đặc trưng trên địa bàn.
* Mục tiêu chiến lược
Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh An Giang Nguyễn Thanh Phong thông tin, thực hiện Kết luận số 75-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, Chương trình hành động số 31-CTr/TW của Bộ Chính trị về “Bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong thời kỳ mới”, An Giang hoạch định một hệ thống các chỉ tiêu, trải rộng trên mọi lĩnh vực từ tài chính, hạ tầng, năng lượng đến giảm phát thải khí nhà kính… Tỉnh đảm bảo bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách địa phương hàng năm cho sự nghiệp bảo vệ môi trường. Tỉnh cụ thể hóa các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp phù hợp với điều kiện thực tiễn, tập trung giải quyết các vấn đề môi trường bức xúc, nâng cao hiệu quả quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học, tăng cường khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu, phòng chống thiên tai.
Tỉnh đặt mục tiêu, đến năm 2030, 100% nguồn nước thải, khí thải lớn thuộc diện bắt buộc phải quan trắc tự động, liên tục đã lắp đặt, vận hành và truyền dữ liệu theo quy định; 100% cụm công nghiệp có nước thải được xử lý đạt quy chuẩn môi trường; 70% nước thải sinh hoạt đô thị tại đô thị đặc biệt và đô thị loại I được thu gom, xử lý đạt chuẩn; tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt đô thị được thu gom, xử lý đạt 95%, khu vực nông thôn đạt 85%, tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt xử lý bằng phương pháp chôn lấp trực tiếp giảm mạnh xuống dưới 30% so với lượng thu gom.
Tỉnh cũng duy trì tỷ lệ che phủ rừng đạt 8,9%; tỷ lệ diện tích khu bảo tồn biển, ven biển so với diện tích tự nhiên vùng biển quốc gia đạt 6%; 70% số hộ dân thuộc khu vực thường xuyên xảy ra thiên tai có nhà ở an toàn; 80% hộ dân sinh sống ở nơi có nguy cơ cao xảy ra lũ quét, sạt lở đất được di dời đến nơi an toàn.
Đối với kinh tế xanh và chuyển dịch năng lượng, tỉnh đặt mục tiêu tỷ trọng kinh tế xanh trong GRDP đạt 10%; 10% tổng số khu công nghiệp đang hoạt động đủ điều kiện đạt chuẩn khu công nghiệp sinh thái; tỷ trọng năng lượng tái tạo trong tổng cung năng lượng sơ cấp đạt tối thiểu 26,1%; xây dựng và chứng nhận từ 35 - 50 công trình xanh trên địa bàn tỉnh; đóng góp giảm 9% lượng phát thải khí nhà kính của quốc gia so với kịch bản phát triển thông thường (BAU).
Trong phát triển kinh tế xanh, An Giang tham gia Đề án phát triển bền vững 1 triệu héc-ta chuyên canh lúa chất lượng cao, phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030. Đây là một hình mẫu điển hình cho việc phát triển kinh tế xanh và tăng trưởng xanh trong nông nghiệp. Tỉnh là địa phương tiên phong, dẫn đầu Đồng bằng sông Cửu Long về quy mô triển khai đề án với diện tích 351.000 ha, đã ghi nhận nhiều kết quả về kinh tế, bảo vệ môi trường. Với mục tiêu 183.597 ha trong năm 2026, tỉnh đã nhân rộng mô hình qua từng vụ sản xuất. Theo đó, vụ Đông Xuân 2025 - 2026, tỉnh triển khai nhân rộng hiệu quả đề án 1 triệu ha với diện tích lúa chất lượng cao đạt chuẩn phát thải thấp 159.667 ha, sản lượng thu hoạch hơn 1,2 triệu tấn; vụ Hè Thu 2026 là 160.955 ha, dự kiến sản lượng thu hoạch đạt hơn 965.730 tấn và tiếp tục sản xuất đạt kế hoạch trong năm nay.
Ông Lê Hữu Toàn, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường An Giang thông tin, hiệu quả của mô hình sản xuất góp phần thay đổi từ phương thức canh tác truyền thống sang quy trình “phát thải thấp” đã mang lại những chỉ số môi trường tích cực tại các mô hình thí điểm trên địa bàn tỉnh, giảm mạnh lượng phát thải khí nhà kính, giảm ô nhiễm hóa chất vào nguồn nước và đất.
Quy trình canh tác “1 phải 5 giảm” giúp nông dân giảm 30 - 40% lượng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật; giảm tình trạng khói bụi từ việc đốt rơm rạ, thu gom rơm rạ để trồng nấm, làm thức ăn gia súc hoặc ủ phân hữu cơ vi sinh, tạo thành vòng tròn kinh tế tuần hoàn khép kín. An Giang đang đưa một đề án môi trường thành một mô hình sinh kế bền vững, đặt nền móng vững chắc cho thương hiệu “Gạo xanh” xuất khẩu.
* Những giải pháp toàn diện
Để hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược bảo vệ môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong kỷ nguyên xanh, An Giang triển khai đồng bộ các nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm, trong đó tập trung mạnh mẽ vào thể chế, hạ tầng và huy động nguồn lực xã hội.
Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh An Giang Nguyễn Thanh Phong nhấn mạnh, tỉnh triển khai các nhiệm vụ, giải pháp bám sát mục tiêu, quan điểm, định hướng của Kết luận số 75-KL/TW và Chương trình hành động số 31-CTr/TW, với phương châm: Bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu phải được xác định là một trong những động lực phát triển mới, gắn với nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất, sức cạnh tranh của nền kinh tế, chất lượng cuộc sống của nhân dân. Tỉnh tổ chức thực hiện đồng bộ, hiệu quả, có trọng tâm, trọng điểm; xác định rõ nội dung công việc, sản phẩm đầu ra, cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp, thời gian thực hiện và trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị trong quá trình triển khai.
Theo đó, bên cạnh nguồn vốn ngân sách chủ đạo (tối thiểu 2%), An Giang khơi thông các nguồn lực xã hội, vốn đầu tư tư nhân, các quỹ khí hậu toàn cầu, nguồn tài chính xanh và tín dụng ưu đãi. Tỉnh tập trung đầu tư hệ thống hạ tầng kỹ thuật đa mục tiêu, tích hợp các yêu cầu chuyển đổi năng lượng, kinh tế tuần hoàn và thích ứng biến đổi khí hậu, hiện đại hóa mạng lưới quan trắc môi trường và cảnh báo thiên tai sớm.
Đặc biệt, tỉnh tập trung giải quyết dứt điểm các điểm nóng ô nhiễm và chuyển đổi mô hình kinh tế. Chú trọng xử lý dứt điểm ô nhiễm nguồn nước tại các lưu vực sông, kênh, mương, hồ; ô nhiễm tại các làng nghề, cụm công nghiệp và khu vực tồn lưu hóa chất bảo vệ thực vật; thúc đẩy mạnh mẽ việc phân loại rác tại nguồn, đầu tư các khu liên hợp xử lý chất thải hiện đại kết hợp thu hồi năng lượng.
Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường An Giang Lê Hữu Toàn cho biết, tỉnh đẩy nhanh tiến độ các dự án xử lý rác tập trung, kêu gọi đầu tư công nghệ hiện đại, tuần hoàn chất thải, thu hồi năng lượng, đốt rác phát điện… Tỉnh cũng mở rộng và nâng cao năng lực thu gom rác thải nông thôn, hướng dẫn các địa phương đổi mới mô hình thu gom, bố trí thêm các điểm tập kết, trạm trung chuyển đạt chuẩn, trang bị phương tiện thu gom phù hợp với địa hình sông rạch nông thôn. Tỉnh xử lý các bãi rác ô nhiễm, đóng cửa và xử lý triệt để ô nhiễm môi trường tại 7 bãi rác lộ thiên trên địa bàn; kêu gọi đầu tư nhà máy xử lý rác có trong quy hoạch tỉnh…
Đặc biệt, trong số 21 dự án đầu tư xây dựng hạ tầng phục vụ Hội nghị cấp cao APEC 2027, tỉnh đang triển khai 3 dự án xử lý rác thải trên đảo Phú Quốc và phấn đấu hoàn thành trước tháng 8/2027. Cụ thể là ký kết hợp đồng với nhà đầu tư chiến lược là Công ty cổ phần - Tổng Công ty Nước - Môi trường Bình Dương (BIWASE) triển khai 3 dự án gồm: Nhà máy xử lý chất thải rắn sinh hoạt Bãi Bổn, công suất xử lý 250 tấn/ngày, tổng mức đầu tư khoảng 382 tỷ đồng; nhà máy xử lý chất thải rắn sinh hoạt An Thới, công suất xử lý 110 tấn/ngày, vốn đầu tư 140 tỷ đồng; nhà máy điện rác Bãi Bổn, năng lực tiếp nhận xử lý từ 200 - 300 tấn rác/ngày, vốn đầu tư 300 tỷ đồng. Việc đầu tư đồng loạt 3 dự án hạ tầng môi trường quy mô lớn sẽ giải quyết các “điểm nghẽn” về rác thải của đảo Ngọc Phú Quốc.
Đối với kinh tế tuần hoàn và phát thải thấp, tỉnh khuyến khích, ưu tiên phát triển năng lượng tái tạo, nông nghiệp thông minh giảm phát thải, giao thông xanh và đô thị xanh; kiểm soát chặt chẽ phát thải khí nhà kính trong suốt vòng đời dự án theo tiêu chuẩn quốc tế.
Giám đốc Sở Công Thương An Giang Nguyễn Thống Nhất thông tin, đến năm 2030, tỉnh ưu tiên phát triển 8 nhà máy điện gió công suất lớn kết nối đồng bộ vào lưới điện truyền tải, gồm: An Giang 1, An Giang 2, Hòn Đất 1, Hòn Đất 2, Kiên Lương 1, Kiên Lương 2, An Biên - An Minh, An Minh 2. Tỉnh xây dựng mới 3 nhà máy điện mặt trời gồm: An Cư, An Giang và nhà máy điện mặt trời ao nuôi tôm Giang Thành 1. Điện mặt trời áp mái, phát triển quy mô 121 MW trên toàn tỉnh. Quy hoạch xây mới các nhà máy điện sinh khối gồm: An Giang 1 (giai đoạn 1), Núi Tô 1, Kiên Giang 1, Kiên Giang 2.
Bên cạnh đó, để bảo tồn hệ sinh thái tự nhiên và chủ động thích ứng với thiên tai, An Giang đẩy mạnh các giải pháp dựa vào tự nhiên (NbS) để bảo vệ và phục hồi các hệ sinh thái nhạy cảm, phát triển các bể hấp thụ carbon xanh từ rừng và đất ngập nước. Tỉnh xây dựng các phương án phòng chống thiên tai linh hoạt theo từng vùng; tái thiết lập quy hoạch khu dân cư an toàn, di dời người dân khỏi các vùng nguy cơ sạt lở cao, kết hợp bảo đảm sinh kế bền vững lâu dài.
An Giang đẩy mạnh ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data) và công nghệ viễn thám trong quản lý cơ sở dữ liệu môi trường, biến đổi khí hậu. Tỉnh đào tạo, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ quản lý cấp cơ sở; có chính sách trọng dụng chuyên gia, nhà khoa học và đãi ngộ thỏa đáng cho lực lượng làm công tác bảo vệ môi trường.
Bằng tầm nhìn chiến lược dài hạn, các mục tiêu định lượng rõ ràng cùng những giải pháp căn cơ, đồng bộ, An Giang đang vững bước trên con đường kiến tạo một mô hình phát triển kiểu mẫu: Tăng trưởng kinh tế đi đôi với bảo vệ hệ sinh thái, bảo đảm an ninh môi trường và mang lại cuộc sống ấm no, an toàn, hạnh phúc cho nhân dân, góp phần vươn lên trở thành một cực tăng trưởng bền vững ở vùng đất Chín Rồng./.

