Công nghệ lõi mở dư địa mới cho hợp tác Việt – Pháp
Chuyến thăm chính thức của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đến Cộng hòa Pháp được kỳ vọng tạo thêm động lực để quan hệ Việt - Pháp chuyển mạnh từ hợp tác thương mại hàng hóa sang công nghệ lõi, trong bối cảnh Việt Nam đứng trước yêu cầu thay đổi về chất mô hình tăng trưởng, lấy khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo làm động lực.

Trao đổi với phóng viên TTXVN tại Paris, bà Trần Hà My, Chủ tịch Hội Doanh nhân trẻ Việt Nam tại châu Âu (VYBE) và là Giám đốc tại Pháp của Mạng lưới Đổi mới sáng tạo Việt Nam tại châu Âu (VINEU), cho rằng ý nghĩa lớn nhất của chuyến thăm nằm ở việc diễn ra đúng thời điểm mô hình tăng trưởng của Việt Nam buộc phải chuyển đổi về chất. Theo bà, nhìn dưới góc độ kinh tế vĩ mô, Việt Nam đang đứng trước một “điểm uốn” mang tính cơ cấu của mô hình tăng trưởng. Phân tích theo mô hình tăng trưởng Solow-Swan, với sản lượng kinh tế được xác định bởi 3 yếu tố gồm công nghệ, vốn và lao động, trong giai đoạn 1995-2024, vốn đóng góp trung bình tới 86% vào tăng trưởng Tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Điều này phản ánh một nền kinh tế chủ yếu dựa vào tích lũy đầu tư. Trong khi đó, năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP), tức năng lực công nghệ và đổi mới sáng tạo nội sinh, chỉ đóng góp khoảng 6-7% trong cùng giai đoạn, dù có những năm được cải thiện đáng kể, lên trên 40%.

Bà Trần Hà My - người cũng được biết đến với vai trò đối tác chính của Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam (VIFC), đồng thời là nhà sáng lập và Chủ tịch Danang Fintech Lab (DFL24) – cho rằng bài toán đặt ra cho giai đoạn 2026-2030 rất cụ thể. Để đạt mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số, hệ số sử dụng vốn ICOR phải được duy trì ở mức hiệu quả khoảng 4,5. Trong khi lực lượng lao động, do dân số già hóa, chỉ còn đóng góp khoảng 0,7%/năm, năng suất lao động phải tăng 8,5%/năm và tỷ trọng đóng góp của TFP phải tăng từ khoảng 47% hiện nay lên trên 55%.

Bà nhấn mạnh đây không phải mục tiêu có thể đạt được bằng cách tiếp tục rót thêm vốn hay tuyển thêm lao động, mà đòi hỏi một cú hích thực sự về công nghệ lõi. Bước chuyển này có nhiều nét tương đồng với giai đoạn cất cánh của Hàn Quốc, Đài Loan (Trung Quốc) và Singapore trong những năm 1980-1990, khi TFP đóng góp 40-50% vào tăng trưởng. Một trong những yếu tố cốt lõi giúp các “con rồng châu Á” vượt qua bẫy thu nhập trung bình là duy trì mức chi cao cho nghiên cứu và phát triển (R&D), trong đó Hàn Quốc đạt 2,5% GDP, so với mức 0,1-0,6% của các nước Đông Nam Á cùng thời kỳ.

Bà Trần Hà My (ngồi ngoài cùng bên phải trên sân khấu) tham dự Hội nghị đối thoại chính sách cấp cao về mô hình tăng trưởng mới, đổi mới sáng tạo và thành phố toàn cầu được tổ chức hồi tháng 7/2026 tại Đà Nẵng.
Ảnh: TTXVN phát

Theo chuyên gia này, chính bối cảnh đó khiến chuyến thăm Pháp lần này mang ý nghĩa cụ thể hơn nhiều so với một hoạt động ngoại giao thông thường. Pháp hội tụ những năng lực công nghệ có thể giúp Việt Nam thúc đẩy TFP, như công nghệ vật liệu và công nghệ lượng tử tại Paris-Saclay, hàng không vũ trụ tại Toulouse, hay công nghệ năng lượng nguyên tử tại các viện nghiên cứu quốc gia Pháp. Bà Trần Hà My cho rằng việc chuyến thăm chính thức Pháp được đặt liền mạch với việc tham dự Hội nghị Thượng đỉnh Không gian vũ trụ và trong khuôn khổ quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện được hai nước xác lập từ tháng 10/2024, cho thấy sự dịch chuyển rõ ràng về trọng tâm, từ hợp tác thương mại hàng hóa sang chuyển giao công nghệ lõi, phù hợp với tinh thần đột phá mà Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị đặt ra đối với khoa học, công nghệ và chuyển đổi số quốc gia.

Nhìn từ góc độ đầu tư, bà Trần Hà My cho rằng giới đầu tư và hoạch định chính sách Pháp đang nhìn Việt Nam qua ít nhất 5 khuôn khổ pháp lý song song, trong đó mỗi khuôn khổ mở ra một loại vốn và công nghệ khác nhau. Đây cũng chính là điểm tạo nên sự khác biệt của giai đoạn hợp tác hiện nay so với trước.

Theo chia sẻ gần đây của Đại sứ Việt Nam tại Pháp Trịnh Đức Hải, trong 6 tháng cuối năm 2026, Đại sứ quán sẽ tập trung thúc đẩy đồng thời nhiều trụ cột gồm hạ tầng chiến lược, đường sắt tốc độ cao, năng lượng, công nghiệp quốc phòng, hàng không vũ trụ, trung tâm tài chính quốc tế, trí tuệ nhân tạo và bán dẫn. Trước thềm chuyến thăm, Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân cũng xác nhận công nghệ vũ trụ và năng lượng hạt nhân là hai hướng hợp tác mới được kỳ vọng.

Lĩnh vực đầu tiên là hạ tầng giao thông tốc độ cao. Nghị quyết số 172/2024/QH15 đã phê duyệt chủ trương đầu tư tuyến đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam dài khoảng 1.541 km, tốc độ thiết kế 350 km/h, dự kiến khởi công trước ngày 31/12/2026. Đây là lĩnh vực Pháp có lợi thế công nghệ trực tiếp thông qua hệ sinh thái TGV và Alstom. Theo bà Trần Hà My, khác với vốn tài chính thuần túy, dòng vốn Pháp vào lĩnh vực này sẽ đi kèm chuyển giao công nghệ vật liệu, như thép ray đặc chủng, hệ thống tín hiệu và điện khí hóa. Đây chính là loại vốn gắn với công nghệ mà một dự án hạ tầng trị giá hàng tỷ USD cần hơn nhiều so với vốn tài chính đơn thuần.

Lĩnh vực thứ hai là năng lượng hạt nhân. Cũng tại kỳ họp năm 2024, Quốc hội đã quyết định tái khởi động dự án điện hạt nhân Ninh Thuận sau 8 năm tạm dừng. Pháp có năng lực hàng đầu thế giới trong lĩnh vực này thông qua EDF và chuỗi cung ứng Framatome. Theo bà Trần Hà My, khuôn khổ pháp lý trong lĩnh vực này, từ an toàn hạt nhân đến các tiêu chuẩn về vật liệu chịu nhiệt và chống bức xạ, đòi hỏi sự hợp tác giữa các chính phủ chứ không chỉ thông qua hợp đồng thương mại. Vì vậy, vai trò của một chuyến thăm cấp cao gần như không thể thay thế bằng các kênh hợp tác thuần túy giữa doanh nghiệp.

Lĩnh vực thứ ba là bán dẫn và công nghiệp công nghệ số. Nghị định số 182/2024/NĐ-CP hỗ trợ tới 50% chi phí đầu tư ban đầu đối với các dự án nghiên cứu và phát triển công nghệ cao đáp ứng điều kiện về quy mô vốn và tiến độ giải ngân, trong khi Luật Công nghiệp Công nghệ số, có hiệu lực từ ngày 1/1/2026, lần đầu tiên tạo khuôn khổ pháp lý riêng cho ngành này. Theo bà Trần Hà My, đây là khuôn khổ mà các quỹ đầu tư mạo hiểm châu Âu chuyên về công nghệ sâu đặc biệt quan tâm. Khác với dòng vốn của các định chế phát triển, các quỹ này cần một môi trường pháp lý có khả năng giảm rủi ro cho những khoản đầu tư dài hạn vào nghiên cứu và phát triển.

Bà Trần Hà My (đứng giữa, quàng khăn đỏ) cùng các thành viên Hội Doanh nhân trẻ Việt Nam tại châu Âu (VYBE).
Ảnh: TTXVN phát

Lĩnh vực thứ tư là công nghệ vũ trụ và công nghiệp quốc phòng - hàng không, hướng hợp tác mới phù hợp trực tiếp với năng lực của Airbus, Thales và các viện nghiên cứu không gian Pháp. Theo bà, việc chuyến thăm chính thức Pháp lần này gắn liền với việc tham dự Hội nghị Thượng đỉnh Không gian vũ trụ không phải là sự trùng hợp ngẫu nhiên, mà phản ánh đúng trọng tâm hợp tác mới này.

Lĩnh vực thứ năm là trung tâm tài chính quốc tế và cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đối với công nghệ tài chính (fintech) theo Nghị quyết số 222/2025/QH15, có hiệu lực từ ngày 1/9/2025. Bà Trần Hà My dẫn trường hợp Proparco, công ty tài chính phát triển khu vực tư nhân thuộc Cơ quan Phát triển Pháp (AFD), như một ví dụ cụ thể về một định chế Pháp đã hiện diện lâu năm tại Việt Nam và đang tăng tốc mở rộng hoạt động. Theo bà, Proparco đã tài trợ 50 triệu USD cho VPBank, 30 triệu USD cho MSB phục vụ năng lượng tái tạo, 10 triệu USD cho EVNFinance hỗ trợ điện Mặt Trời áp mái và đầu tư 15 triệu USD vào Mekong Enterprise Fund IV. Tháng 3/2026, Proparco tiếp tục ký biên bản ghi nhớ với Nam A Bank về phát triển “Cộng đồng Tài chính Xanh”. Quá trình này cho thấy rõ sự dịch chuyển từ tài trợ ngân hàng truyền thống sang các cấu trúc tài chính xanh và số hóa phức tạp hơn. Đây chính là loại sản phẩm mà cơ chế thử nghiệm mới, với mức thuế thu nhập doanh nghiệp ưu đãi 10% trong 30 năm đối với dự án thuộc ngành nghề ưu tiên, sẽ tạo điều kiện thử nghiệm và mở rộng quy mô.

Điểm chung của cả 5 lĩnh vực nói trên là cùng nằm trong Kế hoạch hành động 2026-2028 của khuôn khổ Đối tác Chiến lược Toàn diện Việt - Pháp, đưa quan hệ hai nước từ giai đoạn ký kết khuôn khổ sang triển khai những dự án cụ thể. Theo bà Trần Hà My, vai trò thực chất của chuyến thăm lần này không nằm ở việc mở ra một lĩnh vực hợp tác đơn lẻ, mà ở khả năng tạo “chất xúc tác” chính trị để 5 dòng vốn và công nghệ song song có thể được thúc đẩy đồng thời trong một khuôn khổ nhất quán, thay vì rải rác và rời rạc như những năm trước.

Nền tảng thương mại song phương, với kim ngạch tăng khoảng 42% trong một thập kỷ qua, cho thấy dư địa để hiện thực hóa điều này là có cơ sở. Tuy nhiên, theo bà, tốc độ chuyển từ cam kết chính trị sang dòng vốn thực tế vẫn phụ thuộc vào việc các nghị định hướng dẫn cho từng lĩnh vực được ban hành nhanh và đồng bộ đến đâu trong 12-18 tháng tới.

Bên cạnh vốn và công nghệ, bà Trần Hà My cho rằng cần có một cách tiếp cận mang tính hệ thống để đội ngũ chuyên gia, trí thức người Việt tại Pháp tham gia sâu hơn vào quá trình phát triển đất nước. Theo bà, kinh nghiệm quốc tế cho thấy những quốc gia thành công trong thu hút chất xám kiều bào thường dựa trên các mô hình có tính cấu trúc. Hàn Quốc, với Viện Khoa học và Công nghệ Hàn Quốc (KIST) từ năm 1966, sử dụng cam kết chính trị ở cấp cao nhất để phá vỡ quán tính hành chính. Trung Quốc, với Kế hoạch Nghìn Nhân tài từ năm 2008, sử dụng đòn bẩy tài chính quy mô lớn. Trong khi đó, Đài Loan (Trung Quốc) xây dựng đồng bộ hệ sinh thái lưu trú và nghiên cứu tại Công viên Khoa học Tân Trúc từ năm 1980, tạo nền móng cho sự phát triển của TSMC.

Đối với cộng đồng hơn 400.000 người Việt tại Pháp, trong đó có trên 60.000 trí thức và khoảng 6.000-7.000 du học sinh mỗi năm, bà Trần Hà My cho rằng Việt Nam cần một mô hình riêng, phù hợp với đặc điểm của cộng đồng này. Theo bà, cộng đồng trí thức người Việt tại Pháp mang đậm tính học thuật và nghiên cứu hàn lâm, với nhiều người được đào tạo tại các trường lớn của Pháp và tập trung thành những cụm chuyên môn, như hàng không vũ trụ tại Toulouse với Airbus, hay năng lượng và trí tuệ nhân tạo tại Paris-Saclay. Vì vậy, cơ chế thu hút không thể thuần túy dựa vào văn hóa khởi nghiệp thương mại kiểu Thung lũng Silicon, mà cần hướng tới hợp tác nghiên cứu - đào tạo dài hạn dưới sự bảo trợ chính trị mạnh mẽ, tương tự mô hình Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam - Hàn Quốc (VKIST).

Bà Trần Hà My dẫn một hình mẫu cụ thể đang đi theo hướng này. Tại cuộc gặp trí thức kiều bào Việt Nam ở Pháp vào tháng 6/2025, Thủ tướng Chính phủ đã trực tiếp đề nghị Giáo sư Nguyễn Văn Tâm thuộc Viện Bách khoa Paris (IP Paris) xây dựng đề án đào tạo 100 kỹ sư trí tuệ nhân tạo cho Việt Nam. Theo bà, đây là một mô hình thí điểm đáng được nhân rộng. Từ thực tế này, bà Trần Hà My đề xuất 3 giải pháp, bám sát định hướng của Nghị quyết số 23-NQ/TW của Bộ Chính trị về công tác người Việt Nam ở nước ngoài.

Trước hết, cần thể chế hóa các đề án đào tạo và chuyển giao có mục tiêu, thời hạn cụ thể như mô hình trên, thay vì dừng ở những diễn đàn chia sẻ kinh nghiệm chung chung.

Thứ hai, các hội đoàn như Hội Doanh nhân trẻ Việt Nam tại châu Âu (VYBE) và Mạng lưới Đổi mới sáng tạo Việt Nam tại châu Âu (VINEU) cần được tham gia trực tiếp vào việc xây dựng chương trình nghị sự khi các đoàn công tác cấp nhà nước làm việc tại châu Âu.

Thứ ba, cũng là yếu tố mà bà Trần Hà My cho rằng có tính quyết định để biến tri thức thành sản phẩm thương mại thay vì chỉ dừng ở đào tạo, là gắn những đề án này với một cơ chế tài chính đồng hành cụ thể, chẳng hạn xây dựng quỹ đồng đầu tư quy mô nhỏ giữa kiều bào và các quỹ đổi mới công nghệ trong nước. Theo bà Trần Hà My, khung chính sách mới nhất của Bộ Chính trị về phát huy nguồn lực người Việt Nam ở nước ngoài chính là cơ sở thể chế để hiện thực hóa những hướng đi này trong giai đoạn tới./.

Tin liên quan

Việt Nam- Pháp: Động lực mới cho phát triển thương mại và đầu tư

Việt Nam và Pháp chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao tháng 4/1973, nâng cấp lên Đối tác chiến lược nhân kỷ niệm 40 năm thiết lập quan hệ ngoại giao (2013) và lên Đối tác chiến lược toàn diện tháng 10/2024. Hai nước thường xuyên duy trì trao đổi đoàn các cấp nhiều cơ chế hợp tác song phương đa dạng; phối hợp chặt chẽ, ủng hộ lẫn nhau tại các diễn đàn, tổ chức quốc tế. Đặc biệt, từ khi Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu (EVFTA) có hiệu lực đến nay, quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Pháp đã đánh dấu bước tiến mới cũng như mở ra nhiều cơ hội cho doanh nghiệp hai bên. Do đó, chuyến thăm chính thức Pháp và dự Hội nghị Thượng đỉnh không gian vũ trụ của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm kỳ vọng tạo thêm động lực để hợp tác kinh tế thương mại và đầu tư cũng như các ngành công nghệ chiến lược bước sang chặng đường phát triển mới thực chất, hiệu quả.

Thế hệ trẻ tạo sức sống mới cho quan hệ Việt - Pháp

Giáo sư lịch sử đương đại Pierre Journoud thuộc Đại học Montpellier Paul-Valéry cho rằng cần thu hút nhiều hơn sự tham gia của thế hệ trẻ vào quan hệ Việt - Pháp, thông qua các dự án tạo cơ hội gặp gỡ giữa thanh niên hai nước trong các lĩnh vực giáo dục, nghệ thuật, thể thao, kiến trúc, ký ức lịch sử và đặc biệt là những hoạt động hướng tới tương lai.

Việt - Pháp mở rộng hợp tác trong các lĩnh vực chiến lược

Phó Chủ tịch cấp cao Tập đoàn Thales phụ trách khu vực châu Á và Mỹ Latinh, ông Guy Bonassi nhận định quan hệ Việt - Pháp đang có động lực phát triển đặc biệt tích cực, trong đó khuôn khổ Đối tác chiến lược toàn diện tạo điều kiện thuận lợi để hai nước vượt ra ngoài quan hệ thương mại truyền thống, thúc đẩy hợp tác lâu dài trong các lĩnh vực chiến lược, nhất là công nghệ, đổi mới sáng tạo và phát triển nguồn nhân lực.

Tin cùng chuyên mục

Từ rác thải nhà bếp đến "mỏ vàng" nhiên liệu hàng không bền vững

Thu gom dầu ăn đã qua sử dụng (UCO) để tạo nguồn nguyên liệu đầu vào cho sản xuất dầu diesel sinh học (Biodiesel) hoặc nhiên liệu hàng không bền vững (SAF) là một trong những hướng phát triển bền vững được nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam đang triển khai nhằm góp phần đảm bảo an ninh năng lượng và giảm phát thải.

Việt Nam- Pháp: Động lực mới cho phát triển thương mại và đầu tư

Việt Nam và Pháp chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao tháng 4/1973, nâng cấp lên Đối tác chiến lược nhân kỷ niệm 40 năm thiết lập quan hệ ngoại giao (2013) và lên Đối tác chiến lược toàn diện tháng 10/2024. Hai nước thường xuyên duy trì trao đổi đoàn các cấp nhiều cơ chế hợp tác song phương đa dạng; phối hợp chặt chẽ, ủng hộ lẫn nhau tại các diễn đàn, tổ chức quốc tế. Đặc biệt, từ khi Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu (EVFTA) có hiệu lực đến nay, quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Pháp đã đánh dấu bước tiến mới cũng như mở ra nhiều cơ hội cho doanh nghiệp hai bên. Do đó, chuyến thăm chính thức Pháp và dự Hội nghị Thượng đỉnh không gian vũ trụ của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm kỳ vọng tạo thêm động lực để hợp tác kinh tế thương mại và đầu tư cũng như các ngành công nghệ chiến lược bước sang chặng đường phát triển mới thực chất, hiệu quả.

Việt - Pháp mở rộng hợp tác trong các lĩnh vực chiến lược

Phó Chủ tịch cấp cao Tập đoàn Thales phụ trách khu vực châu Á và Mỹ Latinh, ông Guy Bonassi nhận định quan hệ Việt - Pháp đang có động lực phát triển đặc biệt tích cực, trong đó khuôn khổ Đối tác chiến lược toàn diện tạo điều kiện thuận lợi để hai nước vượt ra ngoài quan hệ thương mại truyền thống, thúc đẩy hợp tác lâu dài trong các lĩnh vực chiến lược, nhất là công nghệ, đổi mới sáng tạo và phát triển nguồn nhân lực.

Thế hệ trẻ tạo sức sống mới cho quan hệ Việt - Pháp

Giáo sư lịch sử đương đại Pierre Journoud thuộc Đại học Montpellier Paul-Valéry cho rằng cần thu hút nhiều hơn sự tham gia của thế hệ trẻ vào quan hệ Việt - Pháp, thông qua các dự án tạo cơ hội gặp gỡ giữa thanh niên hai nước trong các lĩnh vực giáo dục, nghệ thuật, thể thao, kiến trúc, ký ức lịch sử và đặc biệt là những hoạt động hướng tới tương lai.

Tiếng Việt - sợi dây cội nguồn, nhịp cầu vươn xa

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành sự trân trọng đặc biệt đối với tiếng nói của dân tộc. Người từng căn dặn: “Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc. Chúng ta phải giữ gìn nó, quý trọng nó, làm cho nó phổ biến ngày càng rộng khắp”. Với Bác, giữ gìn tiếng Việt cũng là giữ gìn một phần bản sắc và sức sống của dân tộc. Bởi trong tiếng Việt không chỉ có phương tiện giao tiếp, mà còn có ký ức, văn hóa và tâm hồn của một dân tộc được bồi đắp qua nhiều thế hệ.

Đổi mới cơ chế tài chính, mở đường cho nghiên cứu công nghệ chiến lược

Để khoa học, công nghệ thực sự trở thành động lực tăng trưởng, không chỉ cần những ý tưởng đột phá mà còn cần một cơ chế tài chính đủ linh hoạt để ý tưởng có thể đi đến sản phẩm. Thông tư số 49/2026/TT-BKHCN đang mở ra một cách tiếp cận mới đối với hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ chiến lược: Nhà nước chia sẻ rủi ro, trao quyền tự chủ nhiều hơn và đặc biệt là đưa dòng tiền đi theo kết quả nghiên cứu.