Đổi mới mô hình phát triển để kinh tế Việt Nam bứt phá trong kỷ nguyên mới
Yêu cầu của kỷ nguyên mới đòi hỏi Việt Nam phải chuyển mạnh sang mô hình dựa trên khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và quản trị quốc gia hiện đạ
Dự án cao tốc Ninh Bình - Hải Phòng sau khi hoàn thành sẽ góp phần hoàn thiện kết nối vùng, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao năng lực cạnh tranh, thu hút đầu tư, tạo động lực phát triển mạnh mẽ cho tỉnh Ninh Bình và cả vùng đồng bằng sông Hồng. Ảnh: Quốc Khánh – TTXVN

Ngày 20/8, Báo Nhân dân, Tạp chí Cộng sản, Đại học Kinh tế Quốc dân và Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh phối hợp tổ chức Hội thảo khoa học quốc gia với chủ đề “Đổi mới mô hình phát triển của Việt Nam đáp ứng yêu cầu kỷ nguyên mới”.

Phát biểu khai mạc, PGS.TS Bùi Đức Thọ, Giám đốc Đại học Kinh tế Quốc dân cho biết, Việt Nam đang đứng trước một bước ngoặt quan trọng trong quá trình phát triển. Sau 40 năm đổi mới, nền kinh tế đã đạt nhiều thành tựu nhưng mô hình tăng trưởng dựa nhiều vào tài nguyên, vốn và lao động giá rẻ đang dần chạm tới giới hạn.“Yêu cầu của kỷ nguyên mới đòi hỏi Việt Nam phải chuyển mạnh sang mô hình dựa trên khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và quản trị quốc gia hiện đại”, PGS.TS Bùi Đức Thọ nhấn mạnh.

Phát biểu tại hội thảo, Tổng Biên tập Báo Nhân Dân, Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương Lê Quốc Minh nêu rõ, sau 40 năm đổi mới, bối cảnh phát triển của Việt Nam đã có nhiều thay đổi, đòi hỏi phải đánh giá khách quan, toàn diện mô hình phát triển hiện nay, nhận diện rõ những hạn chế, điểm nghẽn và nguyên nhân. Trong đó, cần làm rõ vai trò của từng khu vực kinh tế; phát huy vai trò của kinh tế nhà nước trong những lĩnh vực then chốt, tạo điều kiện để kinh tế tư nhân thực sự trở thành một động lực quan trọng, đồng thời nâng cao sức lan tỏa và mức độ liên kết của khu vực FDI với doanh nghiệp trong nước.

Cùng với đó, cần phát huy các động lực tăng trưởng mới như khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, kinh tế số và kinh tế xanh. Trong mô hình phát triển mới, con người, tri thức và năng lực sáng tạo phải trở thành nguồn lực có tính quyết định.GS.TS. Ngô Thắng Lợi, Giảng viên cao cấp Đại học Kinh tế Quốc dân cho rằng, 40 năm Đổi mới đã tạo nền tảng quan trọng để Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới. Tăng trưởng GDP bình quân mỗi năm đạt khoảng 6,4%, gấp đôi mức tăng trưởng bình quân toàn cầu và cao hơn nhiều quốc gia trong khu vực. Nếu năm 1990, quy mô GDP của Việt Nam mới đạt khoảng 6,7 tỷ USD, xếp thứ 85 thế giới, thì sau 40 năm, GDP đã vượt 500 tỷ USD, đưa Việt Nam lên vị trí thứ 35 thế giới. Quy mô nền kinh tế theo đó tăng hơn 70 lần.

Tuy nhiên, theo GS.TS Ngô Thắng Lợi, phía sau những con số tăng trưởng ấn tượng là những điểm nghẽn cần được giải quyết nếu Việt Nam muốn duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong dài hạn. Đáng chú ý, tốc độ tăng trưởng có xu hướng chậm lại, trong khi các động lực truyền thống chưa tạo được sự chuyển biến về chất lượng.“Các động lực tăng trưởng vẫn chủ yếu dựa vào những yếu tố truyền thống, trong đó có vốn đầu tư; mức độ phụ thuộc vào khu vực FDI còn lớn, trong khi năng lực của khu vực kinh tế tư nhân trong nước chưa đáp ứng yêu cầu của giai đoạn phát triển mới”, GS.TS Ngô Thắng Lợi chỉ rõ.

Theo GS.TS Ngô Thắng Lợi, nếu tiếp tục dựa vào mô hình cũ, Việt Nam sẽ khó đạt các mục tiêu tăng trưởng nhanh và bền vững trong tương lai.Từ thực tế này, mô hình phát triển mới cần được xây dựng trên hai nhóm cấu phần. Nhóm thứ nhất là các mục tiêu phát triển, hướng tới phát triển bao trùm và bền vững, phát triển văn hóa, con người, bảo vệ môi trường, hội nhập quốc tế sâu rộng, xây dựng xã hội hiện đại và bảo đảm quốc phòng, an ninh.

Nhóm thứ hai là các điều kiện và động lực thực hiện, gồm xây dựng nền kinh tế hiệu quả, tự chủ và hội nhập; đồng thời hình thành nền quản trị quốc gia hiện đại, hiệu lực và hiệu quả.Theo GS.TS Ngô Thắng Lợi, để tạo bước đột phá về tăng trưởng, trước hết Việt Nam phải đẩy nhanh đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP). Tuy nhiên, trong thời gian qua, tốc độ tăng trưởng TFP còn rất thấp, chỉ bằng khoảng một phần ba tốc độ tăng trưởng trung bình. Vì vậy, việc nâng tốc độ tăng TFP sẽ có tác động trực tiếp đến khả năng nâng tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế.

Từ góc nhìn về mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia thu nhập cao, GS.TS. Nguyễn Trọng Hoài, Giảng viên cao cấp Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh nhận định, sau 40 năm Đổi mới, Việt Nam đã đi từ một điểm xuất phát thấp để trở thành quốc gia có thu nhập trung bình cao.

Tuy nhiên, để đạt mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045, Việt Nam phải vượt qua nhiều thách thức, nhất là khi mô hình tăng trưởng hiện tại đang dần chạm tới giới hạn.

Phân tích của nhóm nghiên cứu Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh đưa ra hai kịch bản phát triển. Theo đó, nếu tiếp tục mô hình tăng trưởng cũ, Việt Nam sẽ khó đạt mục tiêu thu nhập cao. Ngược lại, nếu thực hiện cải cách mạnh mẽ, đưa các nghị quyết vào cuộc sống và tập trung xử lý đúng những điểm nghẽn, Việt Nam có khả năng trở thành quốc gia thu nhập cao trong khoảng năm 2045 - 2047.Một trong những điều kiện quan trọng của kịch bản cải cách là tăng trưởng năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) phải tăng từ khoảng 0,2% lên trung bình 2%/năm. Để thực hiện mục tiêu này, nỗ lực cải cách cần tập trung vào vốn đầu tư cho công nghệ và đổi mới sáng tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đồng thời nâng cao nội lực của doanh nghiệp trong nước.

Cùng với đó, thu hút FDI thế hệ mới cần gắn chặt hơn với chuyển giao công nghệ, tạo điều kiện để doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.GS.TS. Ngô Thắng Lợi cho rằng, Việt Nam không nên tiếp tục đặt nặng việc gia tăng số lượng dự án FDI, mà cần chuyển từ tư duy “xúc tiến thu hút FDI” sang “xúc tiến đầu tư tại chỗ”.

“Không cần quá chú trọng số lượng FDI mà quan trọng là lựa chọn được các nhà đầu tư mang tính chiến lược, từ đó giữ chân họ và tạo điều kiện để họ tiếp tục đầu tư tại Việt Nam”, ông nói.

Theo hướng này, các doanh nghiệp FDI cần được khuyến khích tăng cường chuyển giao công nghệ, liên kết với doanh nghiệp trong nước và tạo ra hiệu ứng lan tỏa lớn hơn đối với nền kinh tế.

Đối với khu vực tư nhân, cần hình thành mối liên kết chặt chẽ hơn giữa các doanh nghiệp. Trong đó, doanh nghiệp lớn phải trở thành đầu tàu, có khả năng kéo theo doanh nghiệp vừa, nhỏ, thậm chí doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ cùng tham gia chuỗi giá trị.

GS.TS Ngô Thắng Lợi cũng nhấn mạnh, yêu cầu phân định rõ vai trò của ba khu vực kinh tế. Theo đó, khu vực Nhà nước phải thực sự đóng vai trò chủ đạo; khu vực tư nhân là động lực quan trọng nhất; còn khu vực FDI là nguồn bổ trợ quan trọng cho quá trình phát triển.

Tại Hội thảo, các ý kiến chuyên gia nhấn mạnh, khát vọng trở thành quốc gia thu nhập cao cần gắn với ổn định kinh tế vĩ mô, nâng cao năng suất và bảo đảm các khu vực, nhóm dân cư đều có cơ hội tham gia và thụ hưởng thành quả phát triển.Việc đổi mới mô hình phát triển vì thế không đơn thuần là tìm kiếm tốc độ tăng trưởng cao hơn, mà là chuyển đổi căn bản chất lượng tăng trưởng, hiệu quả sử dụng nguồn lực và năng lực nội sinh của nền kinh tế, tạo nền tảng để Việt Nam nâng cao vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu và hiện thực hóa mục tiêu phát triển trong kỷ nguyên mới.

Hội thảo “Đổi mới mô hình phát triển của Việt Nam đáp ứng yêu cầu kỷ nguyên mới” không chỉ đặt ra yêu cầu nhìn lại chặng đường 40 năm đổi mới, mà quan trọng hơn là hướng tới việc xác định những động lực mới, giải pháp mới và cách tiếp cận mới cho tiến trình phát triển đất nước. Qua đó, góp phần tạo thêm cơ sở khoa học và thực tiễn để Việt Nam chủ động nắm bắt cơ hội, vượt qua những điểm nghẽn và vững bước trong kỷ nguyên phát triển mới./.

Tin liên quan

Các chỉ tiêu về xã hội đến năm 2030, năm 2035 và năm 2045

Chương trình hành động số 33-Ctr/TW ngày 28/7/2026 của Bộ Chính trị triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam đề ra chỉ tiêu cụ thể về xã hội. Việt Nam đặt mục tiêu quy mô dân số (đến cuối kỳ) giai đoạn 2026-2030 đạt khoảng 105,4 triệu người; giai đoạn 2031-2035, đạt khoảng 108,3 triệu người và giai đoạn 2036-2045, đạt khoảng 112,9 triệu người. Tỷ lệ người học các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật và công nghệ (STEM) trên tổng số sinh viên giai đoạn 2026-2030 đạt hơn 35%, giai đoạn 2031-2035 đạt khoảng 40% và giai đoạn 2036-2045 đạt 40-45%....

Lan tỏa kỹ năng số trong thanh thiếu nhi vùng biên

Trong hai ngày 19 và 20/8, tại các xã biên giới Tuyên Lâm và Hướng Phùng (tỉnh Quảng Trị), Trung tâm Phát triển Khoa học, Công nghệ và Tài năng trẻ (Trung ương Đoàn) phối hợp với Tỉnh đoàn Quảng Trị và các đơn vị, địa phương tổ chức Ngày hội “Bình dân học vụ số” năm 2026.

Tin cùng chuyên mục

Từ khí thế mùa Thu cách mạng đến khát vọng phát triển

Khí thế của mùa Thu cách mạng năm 1945 hôm nay tiếp tục được Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc xã Tân Trào chuyển hóa thành ý chí tự lực, tinh thần đổi mới và khát vọng xây dựng quê hương phát triển toàn diện, bền vững.

Truyền thông Argentina nêu bật tầm vóc sự kiện lịch sử trọng đại của Việt Nam

Tờ Acercándonos Ediciones của Argentina, đăng bài viết nhấn mạnh ý nghĩa lịch sử của cuộc Tổng khởi nghĩa tháng 8/1945, coi đây là bước ngoặt đưa nhân dân Việt Nam thoát khỏi ách thống trị thực dân, phát xít, giành độc lập, chủ quyền và mở ra một thời kỳ mới trong lịch sử dân tộc, nhân kỷ niệm 81 năm Cách mạng tháng Tám (19/8/1945 - 19/8/2026).

Chủ tịch Hồ Chí Minh với những quyết định lịch sử

Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 là một trong những chiến công vĩ đại nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta, là bản hùng ca bất diệt trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Trong bản hùng ca ấy, không thể không kể đến vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người đã có những quyết định quan trọng, góp phần to lớn tạo nên thắng lợi của cách mạng mùa thu năm ấy, làm thay đổi vận mệnh nước nhà.

“Chạm” vào lịch sử ngày 2/9/1945 bằng công nghệ VR

Ứng dụng công nghệ thực tế ảo để tái hiện thời khắc Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình ngày 2/9/1945, chương trình “Trở về thời khắc thiêng liêng” đã mở ra cách tiếp cận lịch sử trực quan, sinh động. Không chỉ mang đến trải nghiệm công nghệ, chương trình còn góp phần bồi đắp lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc và ý thức trách nhiệm, nhất là đối với thế hệ trẻ.

Vùng quê cách mạng vươn mình trong không gian phát triển mới

Từ những miền đất từng chịu đựng mất mát, một nguồn sức mạnh mới đang được khơi dậy - sức mạnh của lao động, sự đoàn kết và khát vọng dựng xây để những vùng quê cách mạng từng bước trở thành miền quê giàu sức sống, văn minh và đáng sống.

Sức mạnh phía sau những vũ khí thô sơ

Không phải những khí tài hiện đại, mà những vũ khí thô sơ, thậm chí cả những công cụ lao động quen thuộc của người dân, đã hiện diện trong những ngày Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945. Hơn 80 năm sau, những hiện vật ấy được lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, lặng lẽ kể lại những câu chuyện cho thế hệ sau