Vùng quê cách mạng vươn mình trong không gian phát triển mới
Từ những miền đất từng chịu đựng mất mát, một nguồn sức mạnh mới đang được khơi dậy - sức mạnh của lao động, sự đoàn kết và khát vọng dựng xây để những vùng quê cách mạng từng bước trở thành miền quê giàu sức sống, văn minh và đáng sống.
Đường Hồ Chí Minh qua xã Phong Nha, tỉnh Quảng Trị.
Ảnh: Nguyên Linh - TTXVN

Những ngày tháng Tám, cờ đỏ sao vàng tung bay trên những miền quê Quảng Trị, các “địa chỉ đỏ” đón đoàn người về thăm trong không khí kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9. Trên những vùng đất từng đi qua chiến tranh, ký ức về một thời “lũy thép” không chỉ nằm trong câu chuyện của những người từng sống qua bom đạn mà đang hiện diện giữa nhịp sống hôm nay với những tuyến đường rộng mở, công trường rộn tiếng máy, vùng sản xuất sôi động và thêm nhiều sinh kế mới đầy phấn khởi.

Từ sông Gianh đến Thạch Hãn, những dòng sông từng là “tọa độ lửa trong chiến tranh” nay trở lại với nhịp sống đời thường thanh bình, yên ả. Chiến tranh đã lùi xa nhưng ký ức không mất đi. Từ những miền đất từng chịu đựng mất mát, một nguồn sức mạnh mới đang được khơi dậy - sức mạnh của lao động, sự đoàn kết và khát vọng dựng xây để những vùng quê cách mạng từng bước trở thành miền quê giàu sức sống, văn minh và đáng sống.

*Sức bật từ vùng “lũy thép” sông Gianh

Cách đây 81 năm, trong những ngày Tháng Tám năm 1945, phong trào cách mạng ở Quảng Bình sục sôi khí thế chuẩn bị giành chính quyền. Từ những làng quê hai bên dòng Gianh, lực lượng Việt Minh và các tổ chức cứu quốc từng bước tập hợp quần chúng, xây dựng cơ sở, chuẩn bị cho thời khắc lịch sử. Khi thời cơ Tổng Khởi nghĩa đến, khí thế cách mạng lan nhanh từ các vùng nông thôn đến trung tâm dân cư, góp phần cùng cả tỉnh giành chính quyền về tay nhân dân.

Tám mươi mốt năm đi qua, dòng Gianh vẫn chảy giữa những làng quê ấy nhưng diện mạo đôi bờ đã khác. Những vùng đất từng đi qua chiến tranh nay đang mở ra không gian phát triển mới.

Phía Nam sông Gianh, vùng quê Bắc Trạch từng được biết đến với tên gọi “lũy thép Nam sông Gianh” được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân thời kỳ chống Mỹ và là xã đầu tiên của tỉnh Quảng Bình trước đây đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu. Những danh hiệu ấy đã trở thành một phần ký ức. Hôm nay, người dân Bắc Trạch đang kể tiếp câu chuyện quê hương bằng những công việc rất đỗi đời thường: Người làm ruộng, người trồng rừng, người đi biển... Mỗi người một việc nhưng cùng chung mong muốn tìm được sinh kế, nâng cao thu nhập và làm cho cuộc sống ngày càng tốt hơn.

Xã Bắc Trạch được hình thành trên cơ sở sáp nhập các xã Bắc Trạch, Hạ Mỹ, Liên Trạch và Thanh Trạch. Địa bàn rộng hơn mở ra dư địa phát triển lớn hơn, từ nông nghiệp, lâm nghiệp đến kinh tế biển, thương mại, dịch vụ và du lịch ven biển. Trong hành trình xây dựng nông thôn mới, người dân không chỉ là người thụ hưởng mà chính là chủ thể của chương trình.

Những năm qua, Bắc Trạch duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định, tổng giá trị sản xuất tăng bình quân 6,5%/năm; tổng thu ngân sách 5 năm ước khoảng 655 tỷ đồng. Sáu tháng đầu năm 2026, tổng giá trị sản phẩm tăng 7,46%; thương mại, dịch vụ, du lịch đạt 300 tỷ đồng; thu ngân sách 199,58 tỷ đồng; thu nhập bình quân đầu người khoảng 73 triệu đồng/năm. Địa phương giải quyết việc làm cho 1.200 lao động, trong đó 241 người đi làm việc ở nước ngoài; tỷ lệ hộ nghèo còn 1,16%.

Theo Phó Chủ tịch UBND xã Bắc Trạch Trần Hải, địa phương đang tập trung cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng; ưu tiên nông nghiệp công nghệ cao, khai thác thủy sản bền vững, phát triển thương mại - dịch vụ gắn với chuyển đổi số. Khu vực Đá Nhảy cùng không gian ven biển được định hướng phát triển các sản phẩm du lịch gắn với văn hóa, ẩm thực và đời sống cộng đồng. Bắc Trạch đang hướng tới một miền quê phát triển hơn, văn minh hơn, nơi truyền thống “lũy thép” được tiếp nối bằng sức mạnh của lao động và những sinh kế mới.

Trung tâm thương mại Lê Dũng Linh xây dựng tại phường Bắc Gianh với tổng mức đầu tư hơn 150 tỷ đồng. 
Ảnh: Nguyên Linh-TTXVN

Phía Bắc sông Gianh, phường Bắc Gianh được thành lập trên cơ sở sáp nhập các phường Quảng Phúc, Quảng Thọ và Quảng Thuận thuộc thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình trước đây. Vùng đất từng được ví như “lũy thép” bờ Bắc sông Gianh nay đang từng bước khoác lên mình diện mạo đô thị.

Chiều tháng Tám, nắng gắt dội xuống mặt sông Gianh. Trên công trường Khu neo đậu tránh trú bão kết hợp cảng cá Bắc sông Gianh, hàng chục công nhân vẫn miệt mài làm việc. Dưới lòng sông, tàu nạo vét gầm vang, trên bờ, máy xúc, phương tiện vận chuyển liên tục hoạt động. Những đoạn kè mới từng bước hiện lên bên dòng nước. Tiếng máy công trường hôm nay thay cho tiếng bom đạn của một thời. Tư vấn trưởng Lê Duy Khánh cho biết, dự án có tổng mức đầu tư gần 350 tỷ đồng từ ngân sách Trung ương, phục vụ neo đậu, tránh trú bão cho khoảng 800-1.000 tàu thuyền, công suất đến 1.000 CV. Đến nay, công trình đạt khoảng 60% khối lượng. Các nhà thầu đang tăng cường nhân lực, phương tiện, đẩy nhanh thi công các hạng mục nạo vét, xây dựng kè, phấn đấu hoàn thành đúng tiến độ.

Âu thuyền tránh trú bão Bắc sông Gianh khẩn trương thi công.
Ảnh: Nguyên Linh - TTXVN

Với ngư dân, đây không chỉ là một công trình hạ tầng. Đó còn là điểm tựa để những con tàu trở về sau mỗi chuyến biển, nơi che chở khi những cơn bão từ ngoài khơi tiến vào. Trên dòng Gianh từng là tọa độ lửa, một công trình mới đang hình thành, mang theo một ý nghĩa khác: biến lợi thế sông - biển thành sinh kế và động lực phát triển cho người dân.

Hạ tầng, thương mại, dịch vụ và công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp đang tạo thêm sức bật cho Bắc Gianh. Sáu tháng đầu năm 2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ đạt hơn 705 tỷ đồng, tăng 10,43% so với cùng kỳ; giá trị sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp đạt 88 tỷ đồng, tăng 4,6%; thu ngân sách khoảng 69 tỷ đồng, tăng 209,4%.

Trong 6 tháng, Bắc Gianh giải quyết việc làm cho 403 lao động. Đáng chú ý, Di tích quốc gia đặc biệt Bến phà Gianh sau khi khánh thành đã đón khoảng 55.000 lượt người đến thăm, viếng. Từ một địa danh từng là “tọa độ lửa” trong chiến tranh, Bến phà Gianh hôm nay trở thành địa chỉ giáo dục truyền thống, đồng thời mở thêm dư địa cho du lịch, dịch vụ và kinh tế địa phương.

Chủ tịch UBND phường Bắc Gianh Nguyễn Văn Tình cho biết, đường ven biển, khu neo đậu tàu thuyền, Khu đô thị Cồn Két, Khu đô thị Trung tâm, Quảng trường biển cùng hệ thống hạ tầng khu dân cư phía Đông đường Nguyễn Hữu Cảnh đang từng bước mở ra dư địa phát triển cho đô thị Bắc Gianh. Địa phương đang tập trung tháo gỡ khó khăn, đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh, huy động nguồn lực đầu tư kết cấu hạ tầng, đồng thời khai thác hiệu quả những lợi thế sẵn có, từng bước tạo nền tảng cho Bắc Gianh phát triển năng động trong không gian đô thị mới.

Theo Bí thư Đảng ủy phường Bắc Gianh Đinh Thị Ngọc Lan, nhiệm kỳ 2025-2030, địa phương xác định phát triển kinh tế - xã hội là nhiệm vụ trung tâm; tập trung hoàn thiện hạ tầng đô thị, phát triển thương mại, dịch vụ, kinh tế biển, đồng thời huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, tạo động lực để Bắc Gianh phát triển tương xứng tiềm năng và vị thế.

*Bên dòng Thạch Hãn, truyền thống thành động lực

Rời cửa sông Gianh, hành trình về những vùng quê cách mạng đưa chúng tôi đến Triệu Phong, bên dòng Thạch Hãn. Nếu dòng Gianh gợi nhớ những “lũy thép” từng đứng vững giữa bom đạn, bên dòng Thạch Hãn, ký ức cách mạng được lưu giữ trong những câu chuyện về quê hương, về những người con đã dành trọn cuộc đời cho đất nước.

Ở thôn Hậu Kiên - quê hương Tổng Bí thư Lê Duẩn, ký ức về người con ưu tú của quê hương vẫn hiện diện trong câu chuyện của những người từng gặp ông. Ông Nguyễn Tài, 68 tuổi, từng là Bí thư Chi đoàn Hợp tác xã Hậu Kiên, nhiều lần được gặp Tổng Bí thư Lê Duẩn mỗi khi ông về thăm quê. Trong những lần gặp ấy, ông nhớ nhất chuyến trở về vào sáng mùng 1 Tết Đinh Tỵ năm 1977.

Gần nửa thế kỷ trôi qua, một lời căn dặn giản dị về tình làng nghĩa xóm vẫn được người dân Hậu Kiên nhắc lại: “Mỗi nồi khoai cũng gọi nhau ăn, mỗi bát nước chè cũng gọi nhau uống”.

Một câu nói mộc mạc đã trở thành ký ức của làng quê. Hôm nay, tinh thần ấy được người dân Hậu Kiên tiếp nối theo một cách khác: Đoàn kết làm ăn, phát triển kinh tế, giữ gìn nếp sống cộng đồng và chung sức xây dựng quê hương.

Hậu Kiên hôm nay không còn là làng quê nghèo khó của những năm tháng trước. Thu nhập bình quân đầu người đạt khoảng 58 triệu đồng/năm; hộ nghèo giảm còn dưới 3%. Các ngành nghề sản xuất, kinh doanh, dịch vụ từng bước phát triển; những sản phẩm như nem, chả Chợ Sãi từng bước tạo dựng thương hiệu.

Theo Bí thư Chi bộ thôn Hậu Kiên Phan Đức Nam, niềm tự hào về quê hương Tổng Bí thư Lê Duẩn trở thành động lực để cán bộ, nhân dân đoàn kết phát triển kinh tế, giữ gìn truyền thống cách mạng và giáo dục thế hệ trẻ. Năm 2025, Hậu Kiên được công nhận danh hiệu “Thôn văn hóa tiêu biểu”.

Bên dòng Thạch Hãn, Khu lưu niệm Tổng Bí thư Lê Duẩn trở thành địa chỉ giáo dục truyền thống và du lịch về nguồn. Dự án bảo tồn, tôn tạo với tổng mức đầu tư 45 tỷ đồng hoàn thành năm 2025, góp phần gìn giữ giá trị lịch sử, đồng thời tạo thêm điểm nhấn cho địa phương.

Những giá trị truyền thống đang song hành với sức phát triển mới của Triệu Phong. Chủ tịch UBND xã Triệu Phong Đặng Sỹ Dũng cho biết, năm 2025, tổng giá trị sản xuất các ngành của xã ước đạt hơn 2.059 tỷ đồng; thu nhập bình quân đầu người đạt gần 50 triệu đồng; tổng thu ngân sách trên địa bàn hơn 269 tỷ đồng.

Sáu tháng đầu năm 2026, tổng giá trị sản phẩm sản xuất các ngành đạt 1.139 tỷ đồng, tăng 10,08% so với cùng kỳ năm 2025. Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch tích cực, trong đó, thương mại - dịch vụ chiếm 50%, công nghiệp - xây dựng 38%, nông - lâm - thủy sản 12%. Đời sống xã hội tiếp tục được nâng lên: 100% trường học đạt chuẩn quốc gia mức độ 1; tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế đạt 98%; hộ nghèo giảm còn 2,57%; 100% dân số sử dụng nước hợp vệ sinh.

Bên dòng Thạch Hãn, ký ức về một vùng đất cách mạng không chỉ được lưu giữ trong những di tích hay câu chuyện của người cao tuổi. Ký ức ấy đang hòa vào đời sống hôm nay, trong cách người dân đoàn kết làm ăn, gìn giữ làng quê và chăm lo cho thế hệ trẻ. Một miền quê từng đi qua chiến tranh đang từng bước trở thành một miền quê đáng sống.

Từ Bắc Trạch, Bắc Gianh đến Triệu Phong, những vùng đất từng là chiến trường đang bước vào một nhịp phát triển mới. Hợp nhất Quảng Bình và Quảng Trị mở ra một không gian rộng lớn hơn, nơi biển, rừng, đồng bằng, miền núi, cửa khẩu và di sản cùng hiện diện. Nhưng không gian mới chỉ thực sự trở thành động lực khi các lợi thế được kết nối, khi nguồn lực được tổ chức lại và người dân có thêm cơ hội tạo dựng sinh kế. Với những vùng quê cách mạng, từng hứng chịu bom đạn trong chiến tranh, xây dựng cuộc sống hôm nay không chỉ là những con đường mới, trường học mới hay công trình mới. Đó còn là tạo dựng những miền quê an toàn, văn minh, giàu bản sắc và có khả năng giữ chân người dân bằng sinh kế bền vững.

Tám mươi mốt năm sau mùa Thu lịch sử, trên dòng Gianh không còn tiếng bom. Thay vào đó là tiếng máy công trường, tiếng tàu cá trở về, những tuyến đường mới và nhịp sống đang nối dài hai bờ sông. Bên dòng Thạch Hãn, những câu chuyện về tình làng nghĩa xóm, những người con của quê hương vẫn được kể lại cho thế hệ hôm nay. Từ những “lũy thép” năm xưa đến những điểm tựa của cuộc sống hôm nay, truyền thống đang được chuyển hóa thành sức mạnh dựng xây. Khí thế Tháng Tám vì thế không chỉ nằm trong ký ức mà đang hiện diện trong từng công trình, từng sinh kế và nhịp sống mới của một Quảng Trị đang vươn lên./.


Tin liên quan

Vùng quê cách mạng Mỹ Phước trên đường đổi mới

Sau gần 50 năm thống nhất đất nước, vùng sâu ngày nào giờ đây đang trên đường đổi mới, đời sống vật chất tinh thần của nhân dân không ngừng nâng lên, người dân càng tin vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước.

Phát huy giá trị Cách mạng Tháng Tám trong thời đại mới

81 năm sau mùa Thu lịch sử, giá trị của Cách mạng Tháng Tám không chỉ nằm trong những trang sử hào hùng, mà còn hiện diện trong từng bước phát triển của đất nước hôm nay. Những giá trị cốt lõi này tiếp thêm động lực mạnh mẽ để Việt Nam đổi mới, hội nhập quốc tế sâu rộng và vững bước trong kỷ nguyên mới.

Tin cùng chuyên mục

Sức mạnh phía sau những vũ khí thô sơ

Không phải những khí tài hiện đại, mà những vũ khí thô sơ, thậm chí cả những công cụ lao động quen thuộc của người dân, đã hiện diện trong những ngày Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945. Hơn 80 năm sau, những hiện vật ấy được lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, lặng lẽ kể lại những câu chuyện cho thế hệ sau

Phát huy giá trị Cách mạng Tháng Tám trong thời đại mới

81 năm sau mùa Thu lịch sử, giá trị của Cách mạng Tháng Tám không chỉ nằm trong những trang sử hào hùng, mà còn hiện diện trong từng bước phát triển của đất nước hôm nay. Những giá trị cốt lõi này tiếp thêm động lực mạnh mẽ để Việt Nam đổi mới, hội nhập quốc tế sâu rộng và vững bước trong kỷ nguyên mới.

Học để làm việc, làm người, để phụng sự Tổ quốc và nhân dân

Giáo dục lý luận chính trị, lý tưởng cách mạng, đạo đức và ý thức công dân không chỉ là trang bị kiến thức cho người học, mà sâu xa hơn là quá trình hình thành thế giới quan, nhân sinh quan, bản lĩnh, nhân cách và trách nhiệm đối với cộng đồng, đất nước. Đây là vấn đề lúc sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm trong suốt quá trình hoạt động cách mạng.

Giai đoạn 2026-2030: Phấn đấu tỷ trọng kinh tế xanh trên GDP đạt 10%

Thay mặt Ban Chấp hành Trung ương, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã ký ban hành Kết luận số 75-KL/TW ngày 28/7/2026 của Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong thời kỳ mới. Theo đó, mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam phấn đấu: Năng lực quản trị môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu và phòng, chống thiên tai được nâng cao, bảo vệ tốt hơn tính mạng, sức khoẻ, tài sản, sinh kế của Nhân dân. Các khu vực ô nhiễm môi trường nghiêm trọng được tập trung xử lý, phục hồi; chất lượng môi trường sống của Nhân dân được cải thiện; suy giảm đa dạng sinh học được ngăn chặn, hướng tới cân bằng sinh thái. Các nguồn thải lớn được kiểm soát chặt chẽ, thúc đẩy phát triển kinh tế xanh, tuần hoàn, cácbon thấp gắn với đổi mới mô hình và nâng cao chất lượng tăng trưởng, bảo đảm an ninh môi trường và sự phát triển bền vững đất nước. Tầm nhìn đến năm 2045, Việt Nam có môi trường sống trong lành, hài hoà với thiên nhiên, phát triển bền vững; hệ thống quản trị môi trường hiện đại; thích ứng hiệu quả với biến đổi khí hậu. Phát triển kinh tế xanh, tuần hoàn, cácbon thấp trở thành phương thức phát triển quan trọng, góp phần thực hiện mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050. Việt Nam là quốc gia có trách nhiệm, vị thế và uy tín cao trong bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu…

Các chỉ tiêu về thể chế, quản trị quốc gia và hoàn thiện hệ thống chính trị đến năm 2030, năm 2035 và năm 2045

Chương trình hành động số 33-Ctr/TW ngày 28/7/2026 của Bộ Chính trị triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam đề ra chỉ tiêu cụ thể về thể chế, quản trị quốc gia và hoàn thiện hệ thống chính trị. Theo đó, về xếp hạng về phát triển Chính phủ điện tử, Chính phủ số, Việt Nam phấn đấu giai đoạn 2026-2030 thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu ASEAN và 50 nước dẫn đầu thế giới theo đánh giá của Liên hợp quốc (LHQ); giai đoạn 2031-2035, thuộc nhóm 40 nước dẫn đầu thế giới theo đánh giá của LHQ và giai đoạn 2036-2045, thuộc nhóm 30 nước dẫn đầu thế giới theo đánh giá của LHQ. Xếp hạng môi trường đầu tư của Việt Nam giai đoạn 2026-2030 thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu ASEAN và nhóm 30 quốc gia hàng đầu thế giới vào năm 2028 theo đánh giá của LHQ; giai đoạn 2031-2035 và 2036-2045 thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu ASEAN…

Các chỉ tiêu về kinh tế đến năm 2030, năm 2035 và năm 2045

Chương trình hành động số 33-Ctr/TW ngày 28/7/2026 của Bộ Chính trị triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam đề ra chỉ tiêu cụ thể về kinh tế. Theo đó, Việt Nam đặt mục tiêu tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2026-2030 đạt tối thiểu 10%/năm; giai đoạn 2031-2035, đạt từ 8 đến 8,5%/năm và giai đoạn 2036-2045, đạt khoảng 7,5%/năm. GDP bình quân đầu người (theo giá hiện hành, đến cuối kỳ) (USD) giai đoạn 2026-2030 đạt 8.500 USD, giai đoạn 2031-2035 khoảng 13.500 USD và giai đoạn 2036-2045 đạt khoảng 28.000 USD…

Các chỉ tiêu về xã hội đến năm 2030, năm 2035 và năm 2045

Chương trình hành động số 33-Ctr/TW ngày 28/7/2026 của Bộ Chính trị triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam đề ra chỉ tiêu cụ thể về xã hội. Việt Nam đặt mục tiêu quy mô dân số (đến cuối kỳ) giai đoạn 2026-2030 đạt khoảng 105,4 triệu người; giai đoạn 2031-2035, đạt khoảng 108,3 triệu người và giai đoạn 2036-2045, đạt khoảng 112,9 triệu người. Tỷ lệ người học các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật và công nghệ (STEM) trên tổng số sinh viên giai đoạn 2026-2030 đạt hơn 35%, giai đoạn 2031-2035 đạt khoảng 40% và giai đoạn 2036-2045 đạt 40-45%....