Từ mùa Thu độc lập đến khát vọng xây dựng nước Việt Nam hùng cường, thịnh vượng
Mùa Thu năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, dân tộc Việt Nam đã làm nên một bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc.
Kinh tế tăng trưởng ổn định, không ngừng mở rộng quy mô
Từ mùa Thu lịch sử năm 1945 đến mùa Thu năm 2026 là hành trình 81 năm đầy thử thách nhưng cũng vô cùng vẻ vang. Dân tộc Việt Nam đã đi qua các cuộc kháng chiến trường kỳ để bảo vệ độc lập, thống nhất đất nước; vượt qua những năm tháng khó khăn sau chiến tranh; tiến hành công cuộc đổi mới và từng bước hội nhập sâu rộng với thế giới.
Từ một đất nước nghèo, lạc hậu, Việt Nam đã trở thành một nền kinh tế có quy mô lớn, một quốc gia có độ mở cao, một thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.
Đặc biệt, bốn thập niên đổi mới đã chứng minh sức sống của đường lối phát triển phù hợp với điều kiện Việt Nam. Từ một nền kinh tế quy mô nhỏ, Việt Nam đã vươn lên trở thành một trong những nền kinh tế năng động của khu vực. Năm 2025, GDP tăng 8,02%, thuộc nhóm các nền kinh tế tăng trưởng cao trong khu vực và thế giới. Đây là kết quả đặc biệt có ý nghĩa trong bối cảnh kinh tế toàn cầu còn nhiều biến động.
Đáng chú ý, đà tăng trưởng tiếp tục được duy trì trong năm 2026. 6 tháng đầu năm, GDP tăng 8,18% so với cùng kỳ năm trước. Đây là cơ sở quan trọng để nền kinh tế tiếp tục hướng tới mục tiêu tăng trưởng 2 con số.
Cùng với tăng trưởng, quy mô thương mại quốc tế của Việt Nam không ngừng mở rộng. Năm 2025, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu đạt trên 930 tỷ USD, mức cao kỷ lục, xuất siêu 20,03 tỷ USD, đánh dấu năm thứ mười liên tiếp Việt Nam xuất siêu.
Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực như điện tử, dệt may, máy móc, nông sản, thủy sản... ngày càng có vị trí trên thị trường quốc tế. Sáu tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 549,69 tỷ USD, tăng 27% so với cùng kỳ năm trước. Xuất khẩu đạt 266,52 tỷ USD, tăng 21%. Nhập khẩu cũng tăng mạnh, phản ánh nhu cầu lớn về máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu phục vụ sản xuất và đầu tư.
Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 mở ra trang sử mới cho dân tộc. 81 năm sau, Việt Nam đang đứng trước cuộc đổi thay lớn, từ nước đang phát triển trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao.
Giáo dục lý luận chính trị, lý tưởng cách mạng, đạo đức và ý thức công dân không chỉ là trang bị kiến thức cho người học, mà sâu xa hơn là quá trình hình thành thế giới quan, nhân sinh quan, bản lĩnh, nhân cách và trách nhiệm đối với cộng đồng, đất nước. Đây là vấn đề lúc sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm trong suốt quá trình hoạt động cách mạng.
Hệ sinh thái khởi nghiệp miền Trung vừa có thêm không gian sáng tạo kết nối trực tiếp với Hàn Quốc. Dự án kỳ vọng mở đường cho dòng vốn đầu tư và công nghệ tiên tiến đổ về khu vực.
Thay mặt Ban Chấp hành Trung ương, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã ký ban hành Kết luận số 75-KL/TW ngày 28/7/2026 của Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong thời kỳ mới. Theo đó, mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam phấn đấu: Năng lực quản trị môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu và phòng, chống thiên tai được nâng cao, bảo vệ tốt hơn tính mạng, sức khoẻ, tài sản, sinh kế của Nhân dân. Các khu vực ô nhiễm môi trường nghiêm trọng được tập trung xử lý, phục hồi; chất lượng môi trường sống của Nhân dân được cải thiện; suy giảm đa dạng sinh học được ngăn chặn, hướng tới cân bằng sinh thái. Các nguồn thải lớn được kiểm soát chặt chẽ, thúc đẩy phát triển kinh tế xanh, tuần hoàn, cácbon thấp gắn với đổi mới mô hình và nâng cao chất lượng tăng trưởng, bảo đảm an ninh môi trường và sự phát triển bền vững đất nước. Tầm nhìn đến năm 2045, Việt Nam có môi trường sống trong lành, hài hoà với thiên nhiên, phát triển bền vững; hệ thống quản trị môi trường hiện đại; thích ứng hiệu quả với biến đổi khí hậu. Phát triển kinh tế xanh, tuần hoàn, cácbon thấp trở thành phương thức phát triển quan trọng, góp phần thực hiện mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050. Việt Nam là quốc gia có trách nhiệm, vị thế và uy tín cao trong bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu…
Chương trình hành động số 33-Ctr/TW ngày 28/7/2026 của Bộ Chính trị triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam đề ra chỉ tiêu cụ thể về thể chế, quản trị quốc gia và hoàn thiện hệ thống chính trị. Theo đó, về xếp hạng về phát triển Chính phủ điện tử, Chính phủ số, Việt Nam phấn đấu giai đoạn 2026-2030 thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu ASEAN và 50 nước dẫn đầu thế giới theo đánh giá của Liên hợp quốc (LHQ); giai đoạn 2031-2035, thuộc nhóm 40 nước dẫn đầu thế giới theo đánh giá của LHQ và giai đoạn 2036-2045, thuộc nhóm 30 nước dẫn đầu thế giới theo đánh giá của LHQ. Xếp hạng môi trường đầu tư của Việt Nam giai đoạn 2026-2030 thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu ASEAN và nhóm 30 quốc gia hàng đầu thế giới vào năm 2028 theo đánh giá của LHQ; giai đoạn 2031-2035 và 2036-2045 thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu ASEAN…
Chương trình hành động số 33-Ctr/TW ngày 28/7/2026 của Bộ Chính trị triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam đề ra chỉ tiêu cụ thể về kinh tế. Theo đó, Việt Nam đặt mục tiêu tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2026-2030 đạt tối thiểu 10%/năm; giai đoạn 2031-2035, đạt từ 8 đến 8,5%/năm và giai đoạn 2036-2045, đạt khoảng 7,5%/năm. GDP bình quân đầu người (theo giá hiện hành, đến cuối kỳ) (USD) giai đoạn 2026-2030 đạt 8.500 USD, giai đoạn 2031-2035 khoảng 13.500 USD và giai đoạn 2036-2045 đạt khoảng 28.000 USD…
Chương trình hành động số 33-Ctr/TW ngày 28/7/2026 của Bộ Chính trị triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam đề ra chỉ tiêu cụ thể về xã hội. Việt Nam đặt mục tiêu quy mô dân số (đến cuối kỳ) giai đoạn 2026-2030 đạt khoảng 105,4 triệu người; giai đoạn 2031-2035, đạt khoảng 108,3 triệu người và giai đoạn 2036-2045, đạt khoảng 112,9 triệu người. Tỷ lệ người học các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật và công nghệ (STEM) trên tổng số sinh viên giai đoạn 2026-2030 đạt hơn 35%, giai đoạn 2031-2035 đạt khoảng 40% và giai đoạn 2036-2045 đạt 40-45%....
Thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng, ngày 28/7/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm ký ban hành Nghị quyết số 21-NQ/TW về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật đất đai và các luật có liên quan. Nghị quyết nêu rõ mục tiêu tổng quát là: Quản lý đất đai chặt chẽ, minh bạch, công bằng, hiệu quả, bền vững, đưa đất đai thực sự trở thành nguồn lực chiến lược, lợi thế cạnh tranh và động lực phát triển đất nước trong giai đoạn mới, góp phần nâng cao đời sống của Nhân dân, tăng cường niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Hoàn thiện thể chế, chính sách về quản lý và sử dụng đất đồng bộ và phù hợp với thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nguồn lực đất đai được quản lý, khai thác, sử dụng bảo đảm tiết kiệm, bền vững, hiệu quả cao nhất; bảo đảm công bằng và ổn định xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu. Thị trường bất động sản, trong đó có thị trường quyền sử dụng đất, trở thành kênh phân bổ đất đai hợp lý, công bằng, hiệu quả.
Văn phòng Trung ương Đảng vừa ban hành Thông báo số 140-TB/VPTW ngày 8/8/2026 thông báo Kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về tổng kết thực tiễn và nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Điều lệ Đảng. Thông báo chỉ rõ tiến độ, lộ trình triển khai tổng kết. Thống nhất với đề xuất của Ban Tổ chức Trung ương; yêu cầu rà soát kỹ lưỡng, làm rõ các mốc thời gian, xác định nội dung cụ thể, sản phẩm đầu ra và cơ chế kiểm soát chất lượng. Trong đó, bảo đảm: Năm 2026, hoàn thiện đề cương, phương pháp, danh mục chuyên đề. Xuyên suốt năm 2027 và năm 2028, nghiên cứu xây dựng chuyên đề, tổ chức khảo sát, sơ kết mô hình, xác định vấn đề cần sửa đổi, bổ sung; xây dựng dự thảo Báo cáo tổng thể, lấy ý kiến nhiều vòng. Năm 2029, tiếp thu, hoàn thiện dự thảo Báo cáo tổng thể, bảo đảm đồng bộ với Báo cáo tổng kết 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam, định hướng lãnh đạo phát triển đất nước trong 100 năm tiếp theo (2030-2130) và tổng kết 40 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bảo đảm cung cấp các luận cứ khoa học, thực tiễn vững chắc; làm cơ sở để các Tiểu ban của Đại hội XV, nhất là Tiểu ban Điều lệ Đảng xây dựng và đề xuất Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XV của Đảng xem xét, sửa đổi Điều lệ Đảng theo quy định.
Văn phòng Trung ương Đảng ban hành Thông báo số 140-TB/VPTW ngày 8/8/2026 thông báo Kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về tổng kết thực tiễn và nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Điều lệ Đảng. Thông báo chỉ rõ phương pháp, cách thức triển khai, thực hiện nhiệm vụ tổng kết: Cần kế thừa Báo cáo tổng kết 15 năm thi hành Điều lệ Đảng, trọng tâm là cập nhật thực tiễn sau sắp xếp tổ chức bộ máy và thực hiện Quy định số 208-QÐ/TW, ngày 26/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về thi hành Điều lệ Đảng. Nhận diện đúng vấn đề cơ bản, phổ biến, lâu dài cần giải quyết ở cấp Điều lệ Đảng. Kết hợp tổ chức khảo sát diện rộng với nghiên cứu chuyên sâu; giữa số liệu tổng hợp và điển hình cụ thể; giữa tổng kết thực tiễn và phát triển lý luận. Lựa chọn địa bàn khảo sát bảo đảm tính đại diện, đặc biệt chú trọng cấp cơ sở và địa bàn đặc thù. Tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế nhưng phải bám sát thực tiễn Việt Nam; tuyệt đối không rập khuôn, máy móc. Việc lấy ý kiến tiến hành qua nhiều vòng, đúng đối tượng, trúng vấn đề và thực chất. Mỗi phương án đề xuất phải nêu rõ cơ sở chính trị-pháp lý, ưu, khuyết điểm, đánh giá tác động và điều kiện thực hiện. Mọi ý kiến tham gia phải được tổng hợp trung thực, khách quan; việc tiếp thu hay bảo lưu đều phải giải trình rõ ràng, thấu đáo, khoa học.