Từ mùa Thu độc lập đến mùa Thu khát vọng 2045
Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 mở ra trang sử mới cho dân tộc. 81 năm sau, Việt Nam đang đứng trước cuộc đổi thay lớn, từ nước đang phát triển trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao.
Khối Văn hóa, Thể thao diễu hành Kỷ niệm 80 năm Quốc khánh 2/9/2025. 
Ảnh: Hoàng Hà - TTXVN

Tám mươi mốt năm đã đi qua từ mùa Thu 1945, nhưng khí thế Cách mạng Tháng Tám vẫn là nguồn sức mạnh tinh thần lớn lao của dân tộc Việt Nam. Từ một đất nước bị đô hộ, Việt Nam bước ra ánh sáng, giành độc lập, kiên cường giữ nước và từng bước tạo dựng vị thế hôm nay. Trước những mục tiêu phát triển lớn của năm 2030 và 2045, tinh thần mùa Thu năm ấy tiếp tục thôi thúc Việt Nam tiến lên.

Trước Cách mạng Tháng Tám, dân tộc Việt Nam sống dưới ách áp bức của thực dân, phát xít. Nạn đói Ất Dậu năm 1945 cướp đi sinh mạng hơn 2 triệu người. Trong hoàn cảnh ấy, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân cả nước vùng lên Tổng khởi nghĩa, giành chính quyền, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Từ thân phận nô lệ, nhân dân trở thành người làm chủ đất nước. Như Chủ tịch Hồ Chí Minh gọi, đó là “một cuộc thay đổi cực kỳ to lớn trong lịch sử của nước ta”.

Nhưng giành được chính quyền mới chỉ là bước đầu. Chính quyền cách mạng non trẻ phải cùng lúc chống “giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm”. Từ “Hũ gạo cứu đói”, “Tuần lễ vàng”, phong trào bình dân học vụ đến toàn dân kháng chiến, cả nước cùng góp sức giữ nền độc lập. Rồi 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, tiếp đó là gần 21 năm chống đế quốc Mỹ, cứu nước. Gần ba thập kỷ chiến đấu, hy sinh đã làm nên thắng lợi của các cuộc kháng chiến, giữ vững độc lập, thống nhất non sông.

Sau chiến tranh, đất nước lại bước vào một cuộc chiến khác là khắc phục hậu quả, vượt nghèo đói, tìm cách phát triển trong điều kiện vô cùng thiếu thốn. Năm 1986, Đảng ta khởi xướng công cuộc Đổi mới đã mở ra con đường để đất nước từng bước thoát khỏi khủng hoảng, phá thế bao vây, cấm vận và hội nhập với thế giới.

Các cảng tại Thành phố Hồ Chí Minh luôn tấp nập tàu làm hàng. 
Ảnh: Tiến Lực - TTXVN 

40 năm Đổi mới đã làm thay đổi sâu sắc diện mạo đất nước. Từ một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu, Việt Nam nay đã trở thành một trong 34 nền kinh tế lớn nhất thế giới. Quy mô nền kinh tế tăng gần 100 lần so với năm 1986, trong khi thu nhập bình quân đầu người từ dưới 100 USD đã tăng lên gần 5.000 USD.

Nói về bước tiến dài của đất nước, nguyên Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên đặc biệt nhấn mạnh: Hành trình 8 thập kỷ qua, đặc biệt là 40 năm Đổi mới là hành trình của thay đổi tư duy lãnh đạo, quản lý đất nước của Đảng, kịp thời tháo gỡ những điểm nghẽn để phát triển, trong đó Đại hội VI của Đảng năm 1986 được coi là một cột mốc lịch sử.

Theo ông Nguyễn Dy Niên, để đất nước hôm nay tiếp tục tiến tới những mục tiêu trước mắt và lâu dài, điều quan trọng nhất vẫn là đổi mới tư duy, biết nhìn thế giới và nhìn lại chính mình, đồng thời phải biết tập hợp, trọng dụng người tài và giữ gìn bản sắc dân tộc trong hội nhập.

Khẳng định sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, tiền thân của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có tầm ảnh hưởng quốc tế, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Giáo dục Đại học Nga Kostantin Ilyich Mogilevsky, đồng Chủ tịch Hội Lịch sử Nga từng nhấn mạnh: Lần đầu tiên trong lịch sử châu Á, phong trào giải phóng dân tộc Việt Nam đã tự mình lật đổ ách thống trị thực dân, mở tương lai đất nước. Ngày nay, tiền lệ này đang trở nên đặc biệt thời sự.

"Cả thế giới đang trải qua sự chuyển đổi sâu sắc. Ngày càng nhiều quốc gia và dân tộc lựa chọn con đường phát triển tự do, độc lập dựa trên giá trị truyền thống của mình. Thay đổi tích cực này thể hiện nguyên tắc bình đẳng của tất cả chủ thể tham gia vào quan hệ quốc tế đã chín muồi một cách khách quan"- ông Kostantin Ilyich Mogilevsky nhấn mạnh.

Những thành quả hôm nay là kết quả của nhiều thế hệ đã chịu đựng gian khổ, dám hy sinh, dám đổi mới và biết đứng dậy sau mỗi thử thách. Nhưng nhìn thẳng vào sự thật, chặng đường phía trước vẫn còn nhiều việc phải làm. Nguy cơ bẫy thu nhập trung bình, năng suất lao động thấp, già hóa dân số, biến đổi khí hậu, bất bình đẳng xã hội, những vấn đề về an ninh phi truyền thống và các điểm nghẽn trong thể chế, môi trường kinh doanh là những bài toán không thể xem nhẹ. Tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, quan liêu ở một bộ phận cán bộ, đảng viên cũng là những nguy cơ phải kiên quyết đấu tranh.

Người dân thực hiện các thủ tục hành chính ngày càng thuận lợi hơn tại xã Hiệp Hòa (Bắc Ninh). 
Ảnh: Danh Lam - TTXVN

81 năm sau mùa Thu 1945, đất nước đang bước vào giai đoạn phát triển mới. Việc tinh gọn bộ máy, vận hành chính quyền địa phương hai cấp, hợp nhất các tỉnh, thành phố đang hướng tới nâng cao hiệu lực quản trị, đưa chính quyền gần dân hơn. Cùng với cải cách bộ máy là thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và phát triển mạnh khu vực kinh tế tư nhân bên cạnh khu vực kinh tế Nhà nước. Đó là những nguồn lực quan trọng để Việt Nam tăng tốc bền vững, hiệu quả.

Bốn năm nữa là mốc 2030, 19 năm nữa là đến 2045 - thời điểm tròn một thế kỷ nước Việt Nam độc lập. Những mốc thời gian ấy không còn xa. Đại hội XIV của Đảng đã xác lập đường hướng, khát vọng phát triển. Các Hội nghị Trung ương 2 và Trung ương 3 tiếp tục tạo nền tảng về tổ chức, cách vận hành, tháo gỡ điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực và mở ra năng lực phát triển mới. Các Kỳ họp của Quốc hội khóa XVI đã và đang quyết định nhiều vấn đề lớn. Tất cả hướng về mục tiêu xây dựng một Việt Nam sánh vai các cường quốc vào năm 2045.

Những dự báo quốc tế cũng đặt Việt Nam trước một tương lai nhiều triển vọng. Trong đó, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) ước tính đến năm 2029, Việt Nam sẽ là nền kinh tế lớn thứ 32 thế giới. Dự báo ấy càng đặt ra yêu cầu phải biết tận dụng tốt thời cơ, hành động đúng hướng và quyết liệt để hiện thực hoá khát vọng vươn lên.

Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 mở ra trang sử mới cho dân tộc. 81 năm sau, Việt Nam đang đứng trước cuộc đổi thay lớn, từ nước đang phát triển trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao. Điều nối hai mùa Thu ấy chính là ý chí quật cường của một dân tộc không chịu khuất phục, là tinh thần tự lực tự cường, là sức mạnh đoàn kết và niềm tin vào con đường dân tộc đã lựa chọn dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Những giá trị ấy tiếp tục được bồi đắp trong mỗi quyết sách đổi mới, trong hành trình phát triển đất nước hôm nay. Như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định: “Muốn vượt qua mọi thử thách, phải giữ vững đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động, lấy lợi ích của dân tộc, của nhân dân làm tối thượng”./.


Tin liên quan

Triển lãm tư liệu “Mùa thu độc lập và Khát vọng phồn vinh”

Sáng 15/8, triển lãm tư liệu “Mùa thu độc lập và Khát vọng phồn vinh” đã chính thức khai mạc tại Hà Nội. Triển lãm do Thư viện Quốc gia Việt Nam (Bộ VHTTDL) tổ chức nhân dịp kỷ niệm 80 năm ngày Cách mạng tháng Tám (19/8/1945 – 19/8/2025) và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (02/9/1945 - 02/9/2025).

Lễ kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám thành công và Quốc khánh 2/9

Sáng 2/9, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Thủ đô Hà Nội, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và thành phố Hà Nội đã tổ chức trọng thể Lễ kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám thành công (19/8/1945 - 19/8/2025) và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945 - 2/9/2025).

Tin cùng chuyên mục

Học để làm việc, làm người, để phụng sự Tổ quốc và nhân dân

Giáo dục lý luận chính trị, lý tưởng cách mạng, đạo đức và ý thức công dân không chỉ là trang bị kiến thức cho người học, mà sâu xa hơn là quá trình hình thành thế giới quan, nhân sinh quan, bản lĩnh, nhân cách và trách nhiệm đối với cộng đồng, đất nước. Đây là vấn đề lúc sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm trong suốt quá trình hoạt động cách mạng.

Giai đoạn 2026-2030: Phấn đấu tỷ trọng kinh tế xanh trên GDP đạt 10%

Thay mặt Ban Chấp hành Trung ương, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã ký ban hành Kết luận số 75-KL/TW ngày 28/7/2026 của Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong thời kỳ mới. Theo đó, mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam phấn đấu: Năng lực quản trị môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu và phòng, chống thiên tai được nâng cao, bảo vệ tốt hơn tính mạng, sức khoẻ, tài sản, sinh kế của Nhân dân. Các khu vực ô nhiễm môi trường nghiêm trọng được tập trung xử lý, phục hồi; chất lượng môi trường sống của Nhân dân được cải thiện; suy giảm đa dạng sinh học được ngăn chặn, hướng tới cân bằng sinh thái. Các nguồn thải lớn được kiểm soát chặt chẽ, thúc đẩy phát triển kinh tế xanh, tuần hoàn, cácbon thấp gắn với đổi mới mô hình và nâng cao chất lượng tăng trưởng, bảo đảm an ninh môi trường và sự phát triển bền vững đất nước. Tầm nhìn đến năm 2045, Việt Nam có môi trường sống trong lành, hài hoà với thiên nhiên, phát triển bền vững; hệ thống quản trị môi trường hiện đại; thích ứng hiệu quả với biến đổi khí hậu. Phát triển kinh tế xanh, tuần hoàn, cácbon thấp trở thành phương thức phát triển quan trọng, góp phần thực hiện mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050. Việt Nam là quốc gia có trách nhiệm, vị thế và uy tín cao trong bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu…

Các chỉ tiêu về thể chế, quản trị quốc gia và hoàn thiện hệ thống chính trị đến năm 2030, năm 2035 và năm 2045

Chương trình hành động số 33-Ctr/TW ngày 28/7/2026 của Bộ Chính trị triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam đề ra chỉ tiêu cụ thể về thể chế, quản trị quốc gia và hoàn thiện hệ thống chính trị. Theo đó, về xếp hạng về phát triển Chính phủ điện tử, Chính phủ số, Việt Nam phấn đấu giai đoạn 2026-2030 thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu ASEAN và 50 nước dẫn đầu thế giới theo đánh giá của Liên hợp quốc (LHQ); giai đoạn 2031-2035, thuộc nhóm 40 nước dẫn đầu thế giới theo đánh giá của LHQ và giai đoạn 2036-2045, thuộc nhóm 30 nước dẫn đầu thế giới theo đánh giá của LHQ. Xếp hạng môi trường đầu tư của Việt Nam giai đoạn 2026-2030 thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu ASEAN và nhóm 30 quốc gia hàng đầu thế giới vào năm 2028 theo đánh giá của LHQ; giai đoạn 2031-2035 và 2036-2045 thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu ASEAN…

Các chỉ tiêu về kinh tế đến năm 2030, năm 2035 và năm 2045

Chương trình hành động số 33-Ctr/TW ngày 28/7/2026 của Bộ Chính trị triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam đề ra chỉ tiêu cụ thể về kinh tế. Theo đó, Việt Nam đặt mục tiêu tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2026-2030 đạt tối thiểu 10%/năm; giai đoạn 2031-2035, đạt từ 8 đến 8,5%/năm và giai đoạn 2036-2045, đạt khoảng 7,5%/năm. GDP bình quân đầu người (theo giá hiện hành, đến cuối kỳ) (USD) giai đoạn 2026-2030 đạt 8.500 USD, giai đoạn 2031-2035 khoảng 13.500 USD và giai đoạn 2036-2045 đạt khoảng 28.000 USD…

Các chỉ tiêu về xã hội đến năm 2030, năm 2035 và năm 2045

Chương trình hành động số 33-Ctr/TW ngày 28/7/2026 của Bộ Chính trị triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam đề ra chỉ tiêu cụ thể về xã hội. Việt Nam đặt mục tiêu quy mô dân số (đến cuối kỳ) giai đoạn 2026-2030 đạt khoảng 105,4 triệu người; giai đoạn 2031-2035, đạt khoảng 108,3 triệu người và giai đoạn 2036-2045, đạt khoảng 112,9 triệu người. Tỷ lệ người học các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật và công nghệ (STEM) trên tổng số sinh viên giai đoạn 2026-2030 đạt hơn 35%, giai đoạn 2031-2035 đạt khoảng 40% và giai đoạn 2036-2045 đạt 40-45%....

Nghị quyết số 21-NQ/TW: Đưa đất đai thực sự trở thành nguồn lực chiến lược, lợi thế cạnh tranh và động lực phát triển đất nước trong giai đoạn mới

Thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng, ngày 28/7/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm ký ban hành Nghị quyết số 21-NQ/TW về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật đất đai và các luật có liên quan. Nghị quyết nêu rõ mục tiêu tổng quát là: Quản lý đất đai chặt chẽ, minh bạch, công bằng, hiệu quả, bền vững, đưa đất đai thực sự trở thành nguồn lực chiến lược, lợi thế cạnh tranh và động lực phát triển đất nước trong giai đoạn mới, góp phần nâng cao đời sống của Nhân dân, tăng cường niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Hoàn thiện thể chế, chính sách về quản lý và sử dụng đất đồng bộ và phù hợp với thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nguồn lực đất đai được quản lý, khai thác, sử dụng bảo đảm tiết kiệm, bền vững, hiệu quả cao nhất; bảo đảm công bằng và ổn định xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu. Thị trường bất động sản, trong đó có thị trường quyền sử dụng đất, trở thành kênh phân bổ đất đai hợp lý, công bằng, hiệu quả.

Tiến độ, lộ trình triển khai tổng kết thực tiễn và nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Điều lệ Đảng

Văn phòng Trung ương Đảng vừa ban hành Thông báo số 140-TB/VPTW ngày 8/8/2026 thông báo Kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về tổng kết thực tiễn và nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Điều lệ Đảng. Thông báo chỉ rõ tiến độ, lộ trình triển khai tổng kết. Thống nhất với đề xuất của Ban Tổ chức Trung ương; yêu cầu rà soát kỹ lưỡng, làm rõ các mốc thời gian, xác định nội dung cụ thể, sản phẩm đầu ra và cơ chế kiểm soát chất lượng. Trong đó, bảo đảm: Năm 2026, hoàn thiện đề cương, phương pháp, danh mục chuyên đề. Xuyên suốt năm 2027 và năm 2028, nghiên cứu xây dựng chuyên đề, tổ chức khảo sát, sơ kết mô hình, xác định vấn đề cần sửa đổi, bổ sung; xây dựng dự thảo Báo cáo tổng thể, lấy ý kiến nhiều vòng. Năm 2029, tiếp thu, hoàn thiện dự thảo Báo cáo tổng thể, bảo đảm đồng bộ với Báo cáo tổng kết 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam, định hướng lãnh đạo phát triển đất nước trong 100 năm tiếp theo (2030-2130) và tổng kết 40 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bảo đảm cung cấp các luận cứ khoa học, thực tiễn vững chắc; làm cơ sở để các Tiểu ban của Đại hội XV, nhất là Tiểu ban Điều lệ Đảng xây dựng và đề xuất Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XV của Đảng xem xét, sửa đổi Điều lệ Đảng theo quy định.

Cách thức triển khai, thực hiện nhiệm vụ tổng kết thực tiễn và nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Điều lệ Đảng

Văn phòng Trung ương Đảng ban hành Thông báo số 140-TB/VPTW ngày 8/8/2026 thông báo Kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về tổng kết thực tiễn và nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Điều lệ Đảng. Thông báo chỉ rõ phương pháp, cách thức triển khai, thực hiện nhiệm vụ tổng kết: Cần kế thừa Báo cáo tổng kết 15 năm thi hành Điều lệ Đảng, trọng tâm là cập nhật thực tiễn sau sắp xếp tổ chức bộ máy và thực hiện Quy định số 208-QÐ/TW, ngày 26/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về thi hành Điều lệ Đảng. Nhận diện đúng vấn đề cơ bản, phổ biến, lâu dài cần giải quyết ở cấp Điều lệ Đảng. Kết hợp tổ chức khảo sát diện rộng với nghiên cứu chuyên sâu; giữa số liệu tổng hợp và điển hình cụ thể; giữa tổng kết thực tiễn và phát triển lý luận. Lựa chọn địa bàn khảo sát bảo đảm tính đại diện, đặc biệt chú trọng cấp cơ sở và địa bàn đặc thù. Tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế nhưng phải bám sát thực tiễn Việt Nam; tuyệt đối không rập khuôn, máy móc. Việc lấy ý kiến tiến hành qua nhiều vòng, đúng đối tượng, trúng vấn đề và thực chất. Mỗi phương án đề xuất phải nêu rõ cơ sở chính trị-pháp lý, ưu, khuyết điểm, đánh giá tác động và điều kiện thực hiện. Mọi ý kiến tham gia phải được tổng hợp trung thực, khách quan; việc tiếp thu hay bảo lưu đều phải giải trình rõ ràng, thấu đáo, khoa học.

Các yêu cầu về tổng kết thực tiễn và nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Điều lệ Đảng

Văn phòng Trung ương Đảng ban hành Thông báo số 140-TB/VPTW ngày 8/8/2026 thông báo Kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về tổng kết thực tiễn và nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Điều lệ Đảng. Thông báo chỉ rõ: Điều lệ Đảng là văn kiện chính trị, pháp lý cơ bản về tổ chức và hoạt động của Đảng; cụ thể hóa Cương lĩnh chính trị về nguyên tắc tổ chức, chế độ vận hành, quyền và trách nhiệm của đảng viên, kiểm tra, giám sát và kỷ luật Đảng. Những nội dung cốt lõi của Điều lệ Đảng hiện nay vẫn còn nguyên giá trị. Việc nghiên cứu sửa đổi, bổ sung cần đặt trong tổng thể quá trình nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Cương lĩnh chính trị, Hiến pháp; kịp thời lấy ý kiến trong Đảng và Nhân dân; mục tiêu là xây dựng Điều lệ Đảng khoa học, chặt chẽ, ngắn gọn, dễ hiểu, dễ thực hiện; ổn định lâu dài và có giá trị bền vững. Do đó, cần bám sát quan điểm, nguyên tắc, phạm vi và các yêu cầu cụ thể.