Đổi mới quản trị tài chính bằng dữ liệu
Ngành tài chính đang từng bước hoàn thiện thể chế, nâng cao năng lực huy động, phân bổ nguồn lực và đẩy mạnh hiện đại hóa, chuyển đổi số, quản lý dựa trên dữ liệu.
Thanh toán thông minh thúc đẩy tài chính số. Ảnh minh họa

Ngành tài chính đang từng bước hoàn thiện thể chế, nâng cao năng lực huy động, phân bổ nguồn lực và đẩy mạnh hiện đại hóa, chuyển đổi số, quản lý dựa trên dữ liệu.  Giai đoạn mới đặt ra yêu cầu ngành không chỉ tạo thêm nguồn lực cho tăng trưởng mà còn sử dụng hiệu quả hơn từng đồng ngân sách, mở rộng nguồn lực xã hội và duy trì dư địa tài khóa cho phát triển.

Trên thực tế, trải qua 40 năm thực hiện đường lối Đổi mới (1986-2026) ghi dấu quá trình chuyển đổi mạnh mẽ của nền tài chính Việt Nam, từ tư duy kế hoạch hóa tập trung sang mở cửa, hội nhập và xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Sự thay đổi thể hiện trên nhiều lĩnh vực, từ chính sách tài khóa, thuế, ngân sách, quản lý nợ công đến phát triển thị trường tài chính, chứng khoán, bảo hiểm và hải quan. Nếu những năm đầu Đổi mới ngành tập trung đổi mới tư duy, hoàn thiện thể chế, thì giai đoạn hiện nay toàn ngành đặt trọng tâm vào nâng cao hiệu quả huy động, phân bổ nguồn lực và đổi mới phương thức quản lý.Một trong những thay đổi lớn của ngành tài chính là cải cách hệ thống thuế và ngân sách.

Chính sách thuế từng bước được xây dựng theo hướng áp dụng thống nhất đối với các thành phần kinh tế, phù hợp với phát triển sản xuất, kinh doanh và hội nhập quốc tế. Cụ thể, giai đoạn 2021-2025, thu ngân sách nhà nước đạt gần 9,88 triệu tỷ đồng, vượt 18,1% mục tiêu và cao hơn khoảng 1,4 lần giai đoạn 2016-2020. Cùng giai đoạn, các chính sách miễn, giảm, gia hạn thuế, phí, lệ phí và tiền thuê đất khoảng 1,1 triệu tỷ đồng.

Nguồn lực ngân sách được sử dụng cho đầu tư phát triển, quốc phòng, an ninh, giáo dục, y tế, an sinh xã hội và các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội. Khi nền kinh tế gặp khó khăn, chính sách tài khóa được điều chỉnh thông qua miễn, giảm, gia hạn thuế, phí và tiền thuê đất, qua đó hỗ trợ doanh nghiệp, người dân và duy trì hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Quản lý nợ công cũng chuyển từ trọng tâm huy động vốn sang quản lý tổng thể quy mô, cơ cấu, kỳ hạn, chi phí vay và khả năng trả nợ. Nợ công năm 2025 khoảng 35-36% GDP, thấp hơn mức 44,3% GDP năm 2020 và trần 60% GDP. Năm 2026, nợ công dự kiến khoảng 35-36% GDP, nợ Chính phủ 33-34% GDP, nợ nước ngoài của quốc gia 28-29% GDP; nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ khoảng 20-21% thu ngân sách nhà nước, thấp hơn giới hạn 25%.

Trao đổi với báo chí, PGS.TS Vũ Sỹ Cường, Phó trưởng Bộ môn Phân tích chính sách tài chính, Khoa Tài chính Công, Viện Công nghệ và Phát triển Tài chính, Học viện Tài chính cho rằng cải cách tài khóa sau gần 40 năm Đổi mới góp phần giữ ổn định kinh tế vĩ mô. Việc kiểm soát nợ công tạo thêm dư địa để Nhà nước điều hành chính sách tài khóa, hỗ trợ tăng trưởng và ứng phó với biến động kinh tế.Theo ông Vũ Sỹ Cường, nhu cầu đầu tư cho hạ tầng, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực ngày càng lớn, đặt ra yêu cầu tiếp tục nâng cao hiệu quả phân bổ và sử dụng nguồn lực tài chính công.

Quá trình Đổi mới cũng tạo điều kiện hình thành các thị trường tài chính. Thị trường chứng khoán chính thức hoạt động từ năm 2000, tạo thêm kênh huy động vốn cho nền kinh tế. Thị trường trái phiếu Chính phủ trở thành kênh huy động vốn cho ngân sách và đầu tư phát triển. Riêng năm 2024 khối lượng huy động trái phiếu Chính phủ đạt khoảng 500.000 tỷ đồng.Trong lĩnh vực hải quan, quy mô thương mại ngày càng lớn làm thay đổi phương thức quản lý. Năm 2025, tổng trị giá xuất nhập khẩu hàng hóa đạt 930,07 tỷ USD, tăng 18,2% so với năm 2024, đặt ra yêu cầu vừa tạo thuận lợi thương mại, vừa kiểm soát gian lận, chống thất thu và thực hiện các cam kết quốc tế.

Nếu giai đoạn đầu Đổi mới tập trung vào thay đổi tư duy và hoàn thiện thể chế, những năm gần đây ngành tài chính bước sang giai đoạn hiện đại hóa và chuyển đổi số. Riêng giai đoạn 2021-2025, Bộ Tài chính đã trình ban hành 32 luật, nghị quyết, 168 nghị định và ban hành theo thẩm quyền 436 thông tư, góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý tài chính - ngân sách.Trên nền tảng đó, phương thức quản lý thay đổi rõ ở lĩnh vực thuế và hải quan. Theo Cục Thuế, đến hết năm 2025, có 99,37% doanh nghiệp khai thuế điện tử và 99,3% doanh nghiệp nộp thuế điện tử. Hệ thống hóa đơn điện tử đã tiếp nhận, xử lý trên 20,3 tỷ hóa đơn; 345.744 cơ sở kinh doanh đăng ký sử dụng hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền, với 4,8 tỷ hóa đơn được phát hành.

Từ ngày 1/6/2025, theo Nghị định số 70/2025/NĐ-CP, các hộ kinh doanh thuộc diện áp dụng phải sử dụng hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền, qua đó mở rộng nguồn dữ liệu phục vụ quản lý doanh thu và nghĩa vụ thuế. Trong lĩnh vực hải quan, tự động hóa quy trình, xử lý hồ sơ điện tử và sử dụng dữ liệu trong quản lý rủi ro giúp tập trung nguồn lực vào các doanh nghiệp, lô hàng có rủi ro cao.Ông Nguyễn Như Quỳnh, Viện trưởng Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính (Bộ Tài chính) cho rằng tài chính công là nguồn lực để Nhà nước thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội.

Khi nhu cầu phát triển ngày càng lớn trong khi nguồn lực ngân sách có hạn, yêu cầu đặt ra là huy động đủ nguồn lực, phân bổ đúng trọng tâm và sử dụng hiệu quả.Từ quản lý dựa nhiều vào hồ sơ, chứng từ, ngành tài chính đang chuyển dần sang mô hình dựa trên dữ liệu, công nghệ và phân tích. Kết nối dữ liệu thuế, hải quan và các nguồn dữ liệu liên quan giúp nâng cao khả năng đánh giá rủi ro, hỗ trợ ra quyết định và giảm chi phí tuân thủ. Chuyển đổi số vì vậy không chỉ là đưa thủ tục lên môi trường điện tử mà đang trở thành một phương thức đổi mới quản trị tài chính.

Như vậy sau 40 năm Đổi mới, hệ thống tài chính đã chuyển từ yêu cầu xây dựng thể chế phù hợp với kinh tế thị trường sang nâng cao hiệu quả huy động, phân bổ nguồn lực và quản trị dựa trên dữ liệu.Bước vào giai đoạn 2026-2030, chính sách tài chính tiếp tục đứng trước yêu cầu mở rộng cơ sở thu, nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách, kiểm soát bội chi và nợ công, đồng thời tạo thêm nguồn lực cho đầu tư phát triển. Trong bối cảnh mục tiêu tăng trưởng cao được đặt ra, dư địa tài khóa cần được sử dụng có trọng tâm, gắn với hiệu quả đầu tư và khả năng huy động nguồn lực ngoài nhà nước./.

Tin liên quan

Động lực thúc đẩy chuyển đổi số ngành du lịch

Công nghệ số đang làm thay đổi toàn diện ngành du lịch, từ tìm kiếm thông tin, đặt dịch vụ đến trải nghiệm và chia sẻ hành trình. Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia tạo động lực để du lịch Việt Nam chuyển từ ứng dụng công nghệ đơn lẻ sang phát triển hệ sinh thái du lịch số dựa trên dữ liệu

Tin cùng chuyên mục

Khoan thư sức dân

Việc Quốc hội thông qua Nghị quyết về giảm thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp đối với cá nhân và doanh nghiệp tại Kỳ họp không thường lệ thứ nhất (khóa XVI) đang được cộng đồng những người kinh doanh đặc biệt quan tâm và hoan nghênh.

Dòng người thành kính vào Lăng viếng Bác dịp Quốc khánh 2/9

Ngày 1/9, trong kỳ nghỉ lễ Quốc khánh 2/9, đông đảo người dân và du khách từ khắp mọi miền đất nước đã về Quảng trường Ba Đình (Hà Nội), vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh và tham quan Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch.

Mở không gian đón dòng vốn FDI thế hệ mới: Bài cuối - Những "điểm chạm" nối hai cực công nghiệp

Thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW, các địa phương đều đứng trước cùng một yêu cầu: làm tốt nhất những gì có thể để đón dòng vốn ngoại, đồng thời biến nguồn lực ấy thành công nghệ, việc làm, thu nhập, chuỗi liên kết và những động lực tăng trưởng mới. Khi từng địa phương cùng nâng chuẩn môi trường đầu tư, cùng tạo dựng hệ sinh thái đủ sức giữ chân và phát triển doanh nghiệp, dòng vốn FDI sẽ không chỉ là những con số đăng ký, mà trở thành nguồn lực quan trọng để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số và tạo nền tảng cho một giai đoạn phát triển nhanh, bền vững hơn. Tuy nhiên, để những mục tiêu trên thành hiện thực, cấp thẩm quyền cũng cần xem xét hóa giải "điểm nghẽn", tạo cơ chế đặc thù, đủ mạnh để chính sách phát huy hiệu quả tốt nhất tại mỗi địa phương.

Mở không gian đón dòng vốn FDI thế hệ mới: Bài 2- Tạo “đường băng” mới đón dòng vốn ngoại “hạ cánh”

Nếu trước đây, việc thu hút đầu tư, nhất là dòng vốn nước ngoài, chủ yếu các địa phương dựa trên lợi thế về quỹ đất, chính sách ưu đãi và chi phí, thì trong giai đoạn mới, thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW, tỉnh Bắc Ninh – Hưng Yên sẽ hướng tới cạnh tranh bằng những giá trị mới. Hai tỉnh này đã và đang chuẩn bị một hệ sinh thái cơ bản hoàn chỉnh để đón dòng vốn FDI theo hướng ưu tiên lĩnh vực khoa học công nghệ, chíp bán dẫn, AI, đổi mới sáng tạo, phát triển xanh và có trách nhiệm xã hội.