Nhận diện thế mạnh bằng dữ liệu, mở rộng thị trường từ các FTA
Với 3.003 doanh nghiệp, 654 hợp tác xã và gần 59.400 cơ sở sản xuất, kinh doanh cá thể, Tuyên Quang có lực lượng đông đảo các chủ thể tham gia hoạt động kinh tế.
Không gian trưng bày, giới thiệu đa dạng sản phẩm OCOP của tỉnh Tuyên Quang. Ảnh: Minh Tâm-TTXVN

Với 3.003 doanh nghiệp, 654 hợp tác xã và gần 59.400 cơ sở sản xuất, kinh doanh cá thể, Tuyên Quang có lực lượng đông đảo các chủ thể tham gia hoạt động kinh tế. Kết quả sơ bộ Tổng điều tra kinh tế năm 2026 không chỉ giúp nhận diện quy mô, cơ cấu của lực lượng này mà còn cung cấp cơ sở để tỉnh lựa chọn chính sách hỗ trợ phù hợp, từng bước đưa doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ kinh doanh tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị trong nước và quốc tế.

* Từ đông về số lượng đến mạnh về năng lực hội nhập

Theo kết quả sơ bộ Tổng điều tra kinh tế năm 2026, toàn tỉnh Tuyên Quang có 65.896 đơn vị đang hoạt động và có kết quả sản xuất, kinh doanh, với 240.277 lao động. Khu vực đơn vị kinh tế có 63.023 đơn vị, chiếm 95,6% tổng số đơn vị điều tra, thu hút 171.073 lao động.

Điểm đáng chú ý không chỉ nằm ở tổng số đơn vị mà còn ở sự khác biệt về quy mô giữa các khu vực. Tuyên Quang có 3.003 doanh nghiệp đang hoạt động và có kết quả sản xuất, kinh doanh, chiếm khoảng 4,56% tổng số đơn vị điều tra, nhưng sử dụng 75.640 lao động và tạo ra 74,59 nghìn tỷ đồng doanh thu thuần trong năm 2025.

Trong khi đó, toàn tỉnh có 59.366 cơ sở sản xuất, kinh doanh cá thể phi nông, lâm nghiệp và thủy sản, chiếm 90,09% tổng số đơn vị điều tra, với 90.750 lao động. Bình quân mỗi cơ sở chỉ sử dụng khoảng 1,5 lao động, cho thấy phần lớn cơ sở cá thể vẫn có quy mô nhỏ và phân tán. Khoảng cách giữa tỷ trọng số lượng và quy mô hoạt động của hai khu vực đặt ra một bài toán phát triển. Tuyên Quang có lực lượng cơ sở kinh doanh đông đảo, bám sát thị trường dân cư và góp phần quan trọng tạo sinh kế; song để trở thành động lực tăng trưởng mạnh hơn, khu vực này cần được hỗ trợ nâng năng lực quản trị, tiêu chuẩn hóa sản phẩm, ứng dụng công nghệ và mở rộng thị trường.

Đối với những cơ sở có tiềm năng, việc chuyển đổi thành doanh nghiệp có thể mở ra khả năng tiếp cận vốn, công nghệ và các đối tác lớn. Tuy nhiên, chuyển đổi không nên chỉ được nhìn nhận là thay đổi hình thức đăng ký kinh doanh. Yếu tố quyết định là chủ thể sau chuyển đổi có nâng được năng lực sản xuất, quản trị và cạnh tranh hay không.

Vì vậy, chính sách hỗ trợ cần đi vào những nhu cầu cụ thể như kế toán, thuế, xây dựng thương hiệu, truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn chất lượng, thương mại điện tử và kết nối thị trường. Những cơ sở chưa đủ điều kiện chuyển đổi vẫn cần được hỗ trợ đổi mới phương thức kinh doanh để nâng năng suất và phát triển bền vững.

Khu vực kinh tế tập thể cũng là một nguồn lực đáng chú ý. Đến cuối năm 2025, toàn tỉnh có 654 hợp tác xã đang hoạt động và có kết quả sản xuất, kinh doanh, tăng 15,75% so với năm 2020. Số lượng hợp tác xã tăng trong khi lao động giảm cho thấy xu hướng cơ giới hóa, ứng dụng khoa học, công nghệ và thay đổi phương thức tổ chức sản xuất. Hợp tác xã có thể trở thành mắt xích kết nối các hộ sản xuất, tổ chức vùng nguyên liệu, áp dụng quy trình chung và đưa sản phẩm vào hệ thống phân phối hiện đại. Đối với một tỉnh có nhiều sản phẩm nông, lâm nghiệp và đặc sản địa phương, khả năng tổ chức liên kết từ sản xuất đến chế biến, tiêu thụ có ý nghĩa quan trọng trong nâng cao giá trị hàng hóa.

Doanh nghiệp tiếp tục là lực lượng trung tâm của quá trình này. Giai đoạn 2020-2025, số doanh nghiệp đang hoạt động và có kết quả sản xuất, kinh doanh của tỉnh tăng bình quân 6,95% mỗi năm; tổng doanh thu thuần năm 2025 tăng 72,15% so với năm 2020. Đặc biệt, 2.971 doanh nghiệp ngoài nhà nước tạo ra 65,89 nghìn tỷ đồng doanh thu, chiếm 88,34% doanh thu toàn khu vực doanh nghiệp. Phát triển kinh tế tư nhân vì thế không chỉ là tăng số doanh nghiệp đăng ký mới mà còn phải giúp doanh nghiệp hiện hữu nâng năng lực quản trị, đổi mới công nghệ, mở rộng liên kết và tiếp cận thị trường ngoài tỉnh, thị trường quốc tế.

Ông Nguyễn Công Thọ, Phó Trưởng Thống kê tỉnh Tuyên Quang cho biết, kết quả Tổng điều tra là nguồn dữ liệu quan trọng để nhận diện rõ quy mô, sự phân bố và đặc điểm của từng nhóm đơn vị kinh tế. Khi dữ liệu được phân tích sâu theo ngành, địa bàn, quy mô lao động và loại hình hoạt động, các cơ quan quản lý có thể xác định rõ hơn nhóm chủ thể có tiềm năng phát triển cũng như những hạn chế cần được tháo gỡ.

Từ dữ liệu này, tỉnh có thể nhận diện địa bàn tập trung nhiều hộ kinh doanh nhưng thiếu doanh nghiệp dẫn dắt; ngành hàng có tiềm năng nhưng liên kết sản xuất còn yếu; hoặc nhóm chủ thể cần được hỗ trợ về vốn, công nghệ, tiêu chuẩn và thị trường. Đây là cơ sở để chính sách đi đúng đối tượng, tránh hỗ trợ dàn trải.

* Dữ liệu mở đường cho hệ sinh thái tận dụng các FTA

Một hướng đi đang được Tuyên Quang cụ thể hóa là triển khai Đề án Hệ sinh thái tận dụng các Hiệp định thương mại tự do (FTA) giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2035. Đề án hướng đến hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ kinh doanh nâng cao năng lực hội nhập, mở rộng thị trường xuất khẩu, tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị.

Việc triển khai Đề án đúng thời điểm kết quả sơ bộ Tổng điều tra được công bố tạo điều kiện để tỉnh lựa chọn chủ thể dựa trên dữ liệu. Thay vì hỗ trợ theo diện rộng, cơ quan chức năng có thể rà soát những doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ kinh doanh có sản phẩm, năng lực sản xuất hoặc tiềm năng thị trường phù hợp để tham gia Hệ sinh thái.

Theo kế hoạch, ngay trong năm 2026, tỉnh sẽ lựa chọn, giới thiệu ít nhất một doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc hộ kinh doanh tham gia Hệ sinh thái. Từ năm thứ hai trở đi, mỗi năm phấn đấu có ít nhất ba chủ thể mới tham gia. Số lượng ban đầu chưa lớn nhưng cho phép lựa chọn kỹ, hỗ trợ chuyên sâu và hình thành những mô hình có khả năng lan tỏa. Các thành viên sẽ được hỗ trợ ít nhất một nội dung chuyên sâu như tư vấn về chính sách, cam kết FTA; tiếp cận vốn, tín dụng; đáp ứng tiêu chuẩn của thị trường nhập khẩu; xây dựng thương hiệu; phát triển thị trường; kết nối chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị và hệ thống logistics.

Đây đều là những vấn đề nhiều doanh nghiệp nhỏ, hợp tác xã và hộ kinh doanh khó tự giải quyết. Một sản phẩm có chất lượng chưa đồng nghĩa với việc có thể tham gia thị trường xuất khẩu. Chủ thể sản xuất còn phải đáp ứng yêu cầu về quy tắc xuất xứ, tiêu chuẩn kỹ thuật, hồ sơ, truy xuất nguồn gốc, đóng gói, giao hàng và khả năng duy trì nguồn cung ổn định. Đề án đặt mục tiêu đến năm 2030, tỷ lệ giá trị gia tăng trong nước trong tổng kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp tham gia Hệ sinh thái đạt trên 50%; ít nhất 50% doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ kinh doanh tham gia đáp ứng yêu cầu về phát triển bền vững, chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn, tiêu chuẩn ESG, tiêu chuẩn môi trường và các tiêu chuẩn xanh của thị trường xuất khẩu.

Những mục tiêu này cho thấy tận dụng FTA không chỉ là hưởng ưu đãi thuế quan mà còn là quá trình nâng cấp năng lực sản xuất. Doanh nghiệp muốn đi xa hơn phải cải thiện quản trị, công nghệ, chất lượng lao động và khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng cao của thị trường. Đối với Tuyên Quang, Hệ sinh thái FTA còn mở ra khả năng hình thành mạng lưới liên kết từ sản xuất, chế biến, logistics đến tiêu thụ đối với các sản phẩm chủ lực. Trong mạng lưới đó, doanh nghiệp có thể đóng vai trò dẫn dắt thị trường; hợp tác xã tổ chức sản xuất và vùng nguyên liệu; hộ kinh doanh, cơ sở cá thể tham gia cung ứng sản phẩm, dịch vụ.

Theo ông Nguyễn Mạnh Tuấn, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Tuyên Quang, tỉnh xác định việc triển khai Hệ sinh thái tận dụng các FTA phải gắn với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ kinh doanh. Các sở, ngành, địa phương cần phối hợp rà soát, lựa chọn đúng chủ thể có tiềm năng; đồng thời hỗ trợ nâng cao năng lực cạnh tranh, kết nối thị trường và tham gia chuỗi giá trị. Dữ liệu Tổng điều tra là nguồn thông tin quan trọng phục vụ quá trình rà soát và xây dựng chính sách; việc khai thác dữ liệu cần gắn với cập nhật thông tin thị trường, quy tắc xuất xứ, tiêu chuẩn kỹ thuật, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và các yêu cầu mới của thị trường xuất khẩu.

Khi dữ liệu được sử dụng để lựa chọn đúng chủ thể, nhận diện đúng nhu cầu và theo dõi kết quả hỗ trợ, các con số thống kê sẽ trở thành công cụ điều hành. Đây cũng là cơ sở để Tuyên Quang chuyển từ hỗ trợ riêng lẻ sang hình thành hệ sinh thái có sự liên kết giữa cơ quan quản lý, doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh và các tổ chức hỗ trợ.

Từ kết quả Tổng điều tra đến triển khai Hệ sinh thái tận dụng các FTA là quá trình đưa dữ liệu vào thực tiễn phát triển. Nếu khai thác hiệu quả, nguồn dữ liệu này sẽ giúp tỉnh biến lợi thế về số lượng chủ thể kinh tế thành năng lực sản xuất, liên kết và hội nhập; mở rộng không gian thị trường cho hàng hóa địa phương và tạo thêm động lực tăng trưởng bền vững./.

Tin liên quan

Đổi mới mô hình phát triển Việt Nam: Xác định nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội gắn với bảo vệ môi trường là trung tâm

Để hiện thực hóa khát vọng đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045; xác lập nền tảng cho tầm nhìn 100 năm phát triển tiếp theo của đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng (2030 - 2130), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã ký ban hành Nghị quyết số 19-NQ/TW Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam với 5 quan điểm chỉ đạo. Trong đó quan điểm chỉ đạo thứ ba là: Đổi mới mô hình phát triển được vận hành đồng bộ theo cơ chế "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ"; dựa trên nền quản trị quốc gia hiện đại và mối quan hệ hài hòa, hiệu quả giữa Nhà nước, thị trường và xã hội; tổ chức phát triển trong không gian tích hợp, đa tầng, liên thông, tạo liên kết và lan tỏa. Xác định nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội gắn với bảo vệ môi trường là trung tâm; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện là then chốt; phát triển văn hóa và con người là nền tảng, là nguồn lực và động lực nội sinh, sức mạnh mềm quốc gia; tăng cường quốc phòng, an ninh và đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế là trọng yếu, thường xuyên.

Tin cùng chuyên mục

100 năm thành lập Đảng: Từ sứ mệnh lịch sử đến mốc son đổi mới

Nhìn lại chặng đường gần một thế kỷ Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam (1930–2030) là nhìn lại một hành trình đấu tranh, kiến tạo và phát triển đầy bản lĩnh. Trong hành trình đó, công cuộc Đổi mới khởi xướng từ năm 1986 chính là bước ngoặt có ý nghĩa quyết định - khẳng định năng lực tự đổi mới, tư duy sáng tạo và vai trò lãnh đạo của Đảng. Việc tổng kết chặng đường lịch sử này nhằm đúc kết các bài học ở tầm lý luận và xác lập những quyết sách mang tính “bệ phóng” để thực hiện thành công hai mục tiêu chiến lược 100 năm của đất nước.

Ninh Bình đưa dịch vụ công đến gần dân

Chính quyền địa phương 2 cấp tại Ninh Bình đang từng bước đổi mới phương thức quản lý, điều hành theo hướng gần dân, sát cơ sở, phục vụ người dân, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, rút ngắn quy trình giải quyết thủ tục hành chính và kịp thời tháo gỡ những khó khăn phát sinh từ cơ sở.

Nghị quyết 70-NQ-TW: Chủ động ứng phó mưa bão và khôi phục nhanh nguồn điện

Sau những tháng cao điểm nắng nóng với phụ tải điện tăng cao, ngành điện miền Trung chuẩn bị bước vào mùa mưa bão với yêu cầu bảo đảm vận hành an toàn lưới điện và khôi phục nhanh cấp điện khi thiên tai xảy ra. Từ những vị trí xung yếu được gia cố tại cơ sở đến phương án huy động hàng nghìn người, hàng trăm phương tiện trên toàn hệ thống, sự chủ động đang được chuẩn bị từ sớm để giảm thiệt hại và rút ngắn thời gian gián đoạn cung cấp điện.