Giữ đà tăng trưởng cao trước "sóng gió" Trung Đông - Bài 4: Logistics linh hoạt ứng phó rủi ro
Với nền kinh tế có độ mở cao, phụ thuộc lớn vào xuất nhập khẩu như Việt Nam, "cú sốc" năng lượng đang đặt khối doanh nghiệp, đặc biệt là ngành dịch vụ logistics, trước bài toán sinh tồn khắc nghiệt
Gần 90% doanh nghiệp logistics Việt Nam đang phải chịu tác động trực tiếp từ xung đột Trung Đông. 
Ảnh minh họa

Xung đột quân sự tại Trung Đông đang làm gia tăng rủi ro gián đoạn nguồn cung dầu mỏ toàn cầu, đẩy thị trường năng lượng vào trạng thái bất ổn mới. Khi eo biển Hormuz – tuyến vận tải dầu mỏ quan trọng bậc nhất thế giới bị đe dọa gián đoạn, một hiệu ứng dây chuyền lập tức dội vào nền kinh tế toàn cầu. Với nền kinh tế có độ mở cao, phụ thuộc lớn vào kim ngạch xuất nhập khẩu như Việt Nam, "cú sốc" năng lượng này đang đặt khối doanh nghiệp, đặc biệt là ngành dịch vụ logistics, trước bài toán sinh tồn khắc nghiệt.

Tuy nhiên, theo các chuyên gia kinh tế, đây cũng là thời điểm những quyết sách điều hành vĩ mô linh hoạt của Nhà nước phát huy tác dụng như một "điểm tựa" vững chắc, thúc đẩy doanh nghiệp tăng tốc tái cấu trúc.

Ông Đào Trọng Khoa, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam (VLA) dẫn chứng một thực tế từ báo cáo khảo sát mới nhất do hiệp hội tiến hành mới đây. Theo đó, gần 90% doanh nghiệp logistics Việt Nam đang phải chịu tác động trực tiếp từ xung đột Trung Đông.Phân tích về chuỗi cung ứng đang bị kéo căng, ông Đào Trọng Khoa thẳng thắn nhìn nhận, khủng hoảng năng lượng lần này khắc nghiệt ở chỗ nó đi kèm với sự đứt gãy của tuyến đường biển huyết mạch. Khi các hãng tàu buộc phải định tuyến lại, vòng qua Mũi Hảo Vọng thay vì đi qua kênh đào Suez, thời gian hành trình kéo dài thêm từ 10 đến 15 ngày. Điều này không chỉ làm tiêu hao một lượng nhiên liệu khổng lồ giữa lúc giá dầu leo thang, mà còn gây ra tình trạng thiếu hụt container rỗng cục bộ tại các cảng và đẩy cước phí vận tải biển tăng phi mã.

Cùng chung nỗi lo về gánh nặng chi phí, ông Nguyễn Văn Đức, Phó Giám đốc Công ty cổ phần GOLDTRANS LOGISTICS chỉ ra thế "tiến thoái lưỡng nan" của các doanh nghiệp giao nhận nội địa khi mỗi thùng dầu tăng giá trên thị trường thế giới lập tức biến thành áp lực đè nặng lên các khâu vận hành. Từ vận tải đường bộ nội địa kết nối cảng đến cước vận tải quốc tế, mọi chi phí đều bị dội lên. "Nếu tăng giá cước dịch vụ tương ứng với mức tăng của chi phí năng lượng, chúng tôi có nguy cơ mất khách hàng xuất nhập khẩu. Nhưng nếu gồng mình gánh chịu, biên lợi nhuận vốn đã mỏng manh của ngành giao nhận sẽ cạn kiệt. Việc báo giá cho các hợp đồng dài hạn hiện nay là một rủi ro lớn", ông Đức nói. Không dừng lại ở bài toán chi phí, mới đây, Liên đoàn các Hiệp hội Giao nhận Vận tải Quốc tế (FIATA) phải phát đi cảnh báo về rủi ro pháp lý và bảo hiểm cho các doanh nghiệp thành viên.

Ngành logistics Việt Nam hoàn toàn đủ sức mạnh để vượt qua "cơn bão" năng lượng. Ảnh minh họa

Dưới góc độ của một đơn vị trực tiếp xử lý các đơn hàng xuất nhập khẩu, bà Võ Thị Mỹ Hạnh, Giám đốc Công ty TNHH Dịch vụ Giao nhận Quốc tế Việt An chia sẻ, căng thẳng tại Trung Đông không chỉ làm tăng phụ phí nhiên liệu mà còn kích hoạt hàng loạt phụ phí rủi ro chiến tranh (War Risk Surcharge). Theo cảnh báo từ FIATA, khi tàu phải chuyển hướng hoặc chậm trễ, trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với hàng hóa trở thành một cuộc chiến pháp lý phức tạp giữa chủ hàng, hãng tàu và đơn vị giao nhận. Chi phí bảo hiểm hàng hải tăng vọt, trong khi nhiều đơn vị bảo hiểm viện dẫn lý do bất khả kháng để từ chối bồi thường. Doanh nghiệp logistics Việt Nam đa phần là các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs), sức phòng thủ pháp lý mỏng, rất dễ chịu thiệt hại kép trong những tranh chấp này. 

PGS.TS Nguyễn Thường Lạng, Giảng viên cao cấp Viện Thương mại và Kinh tế Quốc tế, Đại học Kinh tế Quốc dân (NEU) - Chuyên gia nghiên cứu về kinh tế quốc tế và thương mại cho hay, trong nhiều thập kỷ qua, chưa khi nào vấn đề an ninh năng lượng lại được đặt ra một cách cấp bách và toàn diện như hiện nay. Tuy nhiên, trong bối cảnh đầy thách thức đó, bức tranh kinh tế Việt Nam không mang màu sắc bi quan. Ngược lại, chính những biến động từ bên ngoài đã làm nổi bật sự can trường của cộng đồng doanh nghiệp và đặc biệt là sự nhạy bén, quyết liệt trong điều hành của Nhà nước.

Chủ trương đa dạng hóa nguồn cung năng lượng, tăng cường dự trữ quốc gia và kiên quyết điều hành giá xăng dầu linh hoạt bám sát diễn biến thế giới của Chính phủ thời gian qua là những quyết sách đúng đắn. Việc bảo đảm thông suốt nguồn cung năng lượng trong nước không chỉ là biện pháp kìm cương lạm phát, mà còn là "tấm khiên" che chắn cho các doanh nghiệp logistics và sản xuất khỏi những cú sốc giá trực diện, tạo khoảng lùi thời gian để họ tái cấu trúc hợp đồng và vận hành.Từ cuộc khủng hoảng này cũng đang mang đến những hàm ý chính sách mang tính bước ngoặt. Để thích ứng và tự chủ, ngành logistics không thể mãi đi trên con đường cũ. Cú sốc năng lượng hóa thạch chính là hồi chuông thúc giục mạnh mẽ nhất cho tiến trình chuyển đổi xanh" và số hóa. Nhà nước cần tiếp tục có những cơ chế ưu đãi mạnh mẽ hơn về tín dụng, thuế để khích lệ doanh nghiệp đầu tư vào phương tiện vận tải sử dụng năng lượng sạch, phát triển logistics xanh và mở rộng các tuyến vận tải liên vận quốc tế bằng đường sắt nhằm đa dạng hóa chuỗi cung ứng. Cùng với đó, các cơ quan quản lý và hiệp hội cần tăng cường vai trò "trạm gác pháp lý", hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao kỹ năng soạn thảo hợp đồng, quản trị rủi ro tranh chấp quốc tế.

Xung đột tại Trung Đông vẫn đang là một biến số khó lường. Song, với tư duy logic và góc nhìn thực tiễn, có thể khẳng định rằng, khó khăn chính là phép thử của bản lĩnh. Với nền tảng thể chế kiến tạo, sự điều hành sát sao, đồng hành thấu hiểu của Chính phủ, cùng nỗ lực tự thân của khối doanh nghiệp tư nhân, ngành logistics Việt Nam hoàn toàn đủ sức mạnh để vượt qua "cơn bão" năng lượng, từng bước tự chủ và nâng cao năng lực cạnh tranh cốt lõi trên trường quốc tế, PGS.TS Nguyễn Thường Lạng nhấn mạnh./.

Bài cuối: Kìm giá hàng hóa leo thang do xăng dầu

Tin liên quan

Cánh cửa lớn mở ra tiềm năng kinh tế biển Đà Nẵng

Vịnh Đà Nẵng đang chứng kiến một bước chuyển mình mới với việc dần hình thành một trung tâm phát triển đa lĩnh vực: cảng biển, logistics, thương mại tự do, tài chính quốc tế… Khi “cánh cửa” Liên Chiểu mở ra đại dương, một hệ thống "cửa biển” liên hoàn của miền Trung sẽ nối nhau mở rộng không gian phát triển to lớn.

Thủ tướng dự Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam – LB Nga

Trong chương trình thăm chính thức Liên bang Nga, chiều 24/3, giờ địa phương, tại Moskva, Thủ tướng Phạm Minh Chính dự Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam – Liên bang Nga và chứng kiến doanh nghiệp hai nước đã trao 4 thoả thuận hợp tác trong các lĩnh vực: dầu khí, vận tải biển, đường sắt, logistics.

Giảm rủi ro, gỡ điểm nghẽn logistics trước biến động Trung Đông

Những diễn biến căng thẳng tại khu vực Trung Đông đang tạo ra xáo trộn đáng kể đối với chuỗi cung ứng và vận tải toàn cầu, làm gia tăng chi phí logistics và kéo dài thời gian giao hàng. Với Việt Nam, tác động này nhanh chóng lan tới hoạt động xuất nhập khẩu, đặt doanh nghiệp trước áp lực phải thích ứng để duy trì đơn hàng và thị phần. Trong bối cảnh đó, việc nhận diện đúng điểm nghẽn logistics cùng sự vào cuộc đồng bộ của doanh nghiệp, bộ, ngành và hiệp hội trở thành yếu tố then chốt nhằm giảm thiểu rủi ro và giữ ổn định chuỗi cung ứng.

Tin cùng chuyên mục

TP. Hồ Chí Minh trước “ngưỡng trần” tăng trưởng và cơ hội bứt phá

Đối mặt với biến động toàn cầu, chi phí đầu vào gia tăng và các động lực tăng trưởng truyền thống dần suy giảm hiệu quả, TP. Hồ Chí Minh đang đứng trước yêu cầu cấp thiết phải tái cấu trúc mô hình phát triển. Mục tiêu tăng trưởng hai con số của thành phố không chỉ là bài toán kinh tế, mà còn là phép thử về năng lực quản trị, khả năng thích ứng và tầm nhìn chuyển đổi sang nền kinh tế dựa trên tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Việt Nam có 13 trường đại học được xếp hạng thế giới theo ngành học (Phần 2 và hết)

Tổ chức giáo dục Quacquarelli Symonds (QS) ngày 25/3/2026 công bố bảng xếp hạng Đại học thế giới theo nhóm ngành năm 2026. Việt Nam có 13 cơ sở giáo dục Đại học có ngành được xếp hạng, gồm Trường Đại học Văn Lang, Đại học Duy Tân, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Quốc gia Hà Nội, Trường Đại học Tôn Đức Thắng, Đại học Bách khoa Hà Nội, Trường Đại học Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Cần Thơ, Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Anh Quốc Việt Nam, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh và Trường Đại học Ngoại thương.

Việt Nam có 13 trường đại học được xếp hạng thế giới theo ngành học (Phần 1)

Tổ chức giáo dục Quacquarelli Symonds (QS) ngày 25/3/2026 công bố bảng xếp hạng Đại học thế giới theo nhóm ngành năm 2026. Việt Nam có 13 cơ sở giáo dục Đại học có ngành được xếp hạng, gồm Trường Đại học Văn Lang, Đại học Duy Tân, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Quốc gia Hà Nội, Trường Đại học Tôn Đức Thắng, Đại học Bách khoa Hà Nội, Trường Đại học Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Cần Thơ, Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Anh Quốc Việt Nam, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh và Trường Đại học Ngoại thương.

Hội nghị công bố Quyết định của Bộ Chính trị về công tác tổ chức và cán bộ của 5 cơ quan

Sáng 1/4, tại Trụ sở Trung ương Đảng đã diễn ra Hội nghị công bố quyết định của Bộ Chính trị về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam.

Hành trình đưa các anh hùng liệt sĩ trở về - mệnh lệnh từ trái tim

Đảng và Nhà nước ta luôn đặc biệt quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo và đề ra nhiều chủ trương, giải pháp toàn diện trong thực hiện chính sách đối với thương binh, gia đình liệt sĩ và người có công với cách mạng, nhất là công tác tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ. “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ” (từ tháng 1/2026-7/2027) là một trong số đó.

Giải pháp tối ưu cho phát triển mô hình Điện – Nông

Mới đây các nhà khoa học thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã nghiên cứu tìm ra giải pháp tối ưu cho phát triển mô hình Điện – Nông. Nghiên cứu đã tìm ra hướng giải quyết được nhiều nhược điểm mà các mô hình Điện – Nông truyền thống trước đây đang gặp phải.