Gỡ "nút thắt" kết nối giao thông Đông Nam Bộ – Bài cuối: Hoàn thiện thể chế, huy động nguồn lực tổng hợp
Vùng kinh tế Đông Nam Bộ được xem là đầu tàu tăng trưởng, khu vực năng động bậc nhất của cả nước, đóng góp quan trọng vào GDP, xuất khẩu và thu ngân sách quốc gia. Trong bối cảnh hợp nhất địa giới hành chính, chuyển đổi mô hình phát triển và yêu cầu tăng trưởng bền vững, việc tiếp tục phát huy vai trò dẫn dắt của vùng đặt ra yêu cầu cấp thiết về hoàn thiện thể chế, chính sách và hạ tầng cho hoạt động liên kết nội vùng, liên vùng.

* Hoàn thiện thể chế

Cao tốc Biên Hòa - Vũng Tàu đoạn qua xã Long Đức (huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai) còn vướng giải phóng mặt bằng. 
Ảnh: Hồng Đạt - TTXVN

Mạng lưới kết cấu hạ tầng cấp vùng, liên vùng, nhất là hạ tầng giao thông kết nối nội vùng và liên vùng của Đông Nam Bộ vẫn còn nhiều điểm nghẽn, thiếu đồng bộ, ảnh hưởng đến tốc độ phát triển và sức lan tỏa của toàn vùng. Một trong những nguyên nhân quan trọng được Nghị quyết số 24-NQ/TW của Bộ Chính trị chỉ rõ là thể chế liên kết vùng chưa đồng bộ, hiệu lực và hiệu quả còn hạn chế; thiếu cơ chế, chính sách đủ mạnh để khuyến khích, huy động hiệu quả các nguồn lực, đặc biệt là nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước, cho đầu tư các công trình hạ tầng quan trọng.

Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Tuấn Hưng, Viện trưởng Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ, mặc dù, đã có nhiều nỗ lực, liên kết giữa các địa phương trong vùng Đông Nam Bộ vẫn thiếu tính chặt chẽ, chưa khai thác hết tiềm năng về hạ tầng, chuỗi cung ứng, khoa học – công nghệ, nguồn nhân lực và các ngành kinh tế mũi nhọn. Khoảng trống liên kết này không chỉ kìm hãm sự phát triển của từng địa phương mà còn làm suy giảm sức cạnh tranh tổng thể của cả vùngtrong thu hút đầu tư và hội nhập quốc tế.

Phân tích sâu hơn những hạn chế trong liên kết nội vùng, Tiến sĩ Hoàng Văn Tú (Học viện Cán bộ TP. Hồ Chí Minh) cho rằng, các cơ chế phối hợp liên vùng hiện nay mới dừng ở mức khởi đầu, chưa đủ mạnh để điều hòa lợi ích, nguồn lực giữa các địa phương thành phần sau hợp nhất. Việc hợp nhất về mặt hành chính – hạ tầng tạo ra tiềm năng hợp lực lớn hơn, song đồng thời đặt ra yêu cầu cấp thiết về thiết lập một cơ chế quản lý và điều phối chung có thực quyền, thực trách nhiệm.

Hạn chế cốt lõi của liên kết kinh tế vùng Đông Nam Bộ, theo các chuyên gia, xuất phát từ việc thể chế liên kết vùng chưa được hình thành đầy đủ và thống nhất. Các quy định về liên kết bắt buộc còn mang tính nguyên tắc, thiếu cơ chế vận hành và giám sát cụ thể. Khung pháp lý hiện nay chưa có văn bản ở cấp luật hoặc nghị định chuyên biệt cho liên kết vùng, đặc biệt là các quy định liên quan đến phân bổ ngân sách liên vùng, chia sẻ nguồn lực, phối hợp đầu tư và điều phối các dự án hạ tầng liên tỉnh.

Để tạo đột phá trong thập kỷ tới, Đông Nam Bộ cần tập trung triển khai đồng bộ các giải pháp then chốt như: hoàn thiện thiết chế điều phối vùng có thực quyền và ngân sách độc lập; đầu tư mạnh cho kết nối hạ tầng đa phương thức; xây dựng các trung tâm logistics cấp vùng; tích hợp chặt chẽ quy hoạch đô thị – công nghiệp – giao thông – môi trường. Khi hai trụ cột thể chế và hạ tầng được củng cố vững chắc, Đông Nam Bộ sẽ chuyển từ mô hình tăng trưởng phân tán sang tăng trưởng tích hợp, bền vững và lan tỏa mạnh mẽ.

Thành ủy TP. Hồ Chí Minh xác định sẽ tạo bước đột phá về hệ thống kết cấu hạ tầng, đầu tư hoàn thiện hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị theo quy hoạch. Thành phố huy động tối đa mọi nguồn lực theo nguyên tắc đầu tư công dẫn dắt, kích hoạt các nguồn lực xã hội để đầu tư hoàn thiện kết cấu hạ tầng, nhất là hạ tầng giao thông kết nối, các dự án giao thông trọng điểm và các trục động lực phát triển gắn với cảng biển, sân bay.

Vừa qua, HĐND TP. Hồ Chí Minh cũng như tỉnh Đồng Nai đã thông qua các Nghị quyết giao cơ quan chức năng triển khai một loạt công trình cầu kết nối hai địa phương như: Tân An (cầu Tân An – Lạc An), Tân Hiền (cầu Tân Hiền – Thường Tân), Thạnh Hội 2, Cát Lái, Phú Mỹ 2 và Long Hưng, tạo tiền đề quan trọng cho kết nối không gian phát triển liên vùng.

* Huy động nguồn lực tổng hợp

Việc hợp nhất về mặt hành chính – hạ tầng tạo ra tiềm năng hợp lực lớn hơn. 
Ảnh: Hồng Đạt - TTXVN

Việc Quốc hội ban hành Nghị quyết 260/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết 98/2023/QH15 tiếp tục mở ra dư địa và cơ chế thuận lợi cho các địa phương trong vùng Đông Nam Bộ triển khai các dự án hạ tầng giao thông kết nối liên vùng. TP. Hồ Chí Minh được xác định giữ vai trò "đầu tàu", dẫn dắt và điều phối triển khai các dự án trọng điểm.

Triển khai Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội, Phó Bí thư Thành ủy TP. Hồ Chí Minh Đặng Minh Thông nhấn mạnh, thành phố sẽ đề xuất các cơ chế đột phá để thu hút nguồn vốn từ khu vực tư nhân, vốn đầu tư nước ngoài và các tổ chức quốc tế theo phương thức đối tác công – tư (PPP) nhằm sớm hoàn thiện hệ thống hạ tầng các vùng chức năng và các trục động lực phát triển.

Tại Tây Ninh, nhu cầu vốn đầu tư cho hạ tầng chiến lược giai đoạn 2026–2030 rất lớn, trong khi nguồn lực hiện có chưa đáp ứng kịp. Những vướng mắc hành chính sau hợp nhất cũng ảnh hưởng nhất định đến tiến độ triển khai dự án. Giải pháp then chốt của tỉnh là đẩy nhanh các công trình trọng điểm, sử dụng đầu tư công làm "vốn mồi", qua đó kích hoạt mạnh mẽ các nguồn lực xã hội.

Tỉnh Tây Ninh xác định nhiệm vụ trọng tâm là huy động đồng thời vốn đầu tư công và tư nhân, đặc biệt là PPP, bảo đảm nguồn vốn ổn định, liên tục cho các dự án hạ tầng giao thông; đồng thời tận dụng các nguồn vốn vay ưu đãi và hỗ trợ quốc tế.

Theo Tiến sĩ Hoàng Văn Tú, các địa phương cần đẩy mạnh đầu tư hạ tầng liên kết vùng, bởi đây là nền tảng cốt lõi cho tăng trưởng dài hạn. Cần huy động đồng thời vốn đầu tư công, PPP và xã hội hóa để hoàn thiện các trục giao thông then chốt như Vành đai 3, Vành đai 4, các tuyến cao tốc kết nối ba địa phương, nâng cấp cảng biển, phát triển mạng lưới logistics thông minh và hạ tầng số liên vùng.

Nhiều chuyên gia cũng cho rằng, việc đầu tư các trung tâm logistics hiện đại tại Bình Dương(trước đây) và Đồng Nai sẽ giúp kết nối nhanh hàng hóa từ khu công nghiệp ra cảng, giảm chi phí logistics, rút ngắn thời gian giao nhận và nâng cao độ tin cậy của chuỗi cung ứng, qua đó tăng sức hấp dẫn của vùng đối với các nhà đầu tư FDI.

Huy động mạnh mẽ nguồn lực theo hình thức PPP cho các dự án liên vùng được xác định là nền tảng quan trọng để liên kết vùng đi vào thực chất. Phát triển hạ tầng giao thông đồng bộ không chỉ bảo đảm kết nối liên vùng mà còn thúc đẩy tái cơ cấu kinh tế, phát triển công nghiệp, dịch vụ và du lịch.

Theo UBND tỉnh Đồng Nai, trong những năm tới, địa phương cần nguồn vốn rất lớn để triển khai các dự án đường bộ, cầu và đường sắt kết nối sân bay Long Thành với TP. Hồ Chí Minh. Do ngân sách còn hạn chế, tỉnh sẽ đa dạng hóa hình thức đầu tư như BT, PPP, đồng thời sử dụng nguồn thu từ đấu giá đất và khai thác quỹ đất dọc các tuyến giao thông để tạo vốn cho đầu tư hạ tầng.

Đối với TP. Hồ Chí Minh, UBND Thành phố sẽ huy động đa dạng nguồn lực, nhất là PPP, để đầu tư các công trình trọng điểm, các trục – vành đai – hành lang kinh tế, đường sắt đô thị, hệ thống ven biển và đường thủy, mở rộng không gian phát triển và tăng cường kết nối vùng. Địa phương ưu tiên nguồn lực ngân sách, đồng thời đẩy mạnh thực hiện các cơ chế đặc thù theo Nghị quyết 98/2023/QH15 (nay là Nghị quyết 260/2025/QH15) để hoàn thành khép kín Vành đai 2, Vành đai 3, khởi động Vành đai 4, cao tốc TP. Hồ Chí Minh – Mộc Bài và các tuyến metro.

Theo Chủ tịch UBND TP. Hồ Chí Minh Nguyễn Văn Được, phát triển theo mô hình siêu đô thị "đa cực, đa trung tâm" không thể thiếu hệ thống hạ tầng giao thông hiện đại, kết nối liên vùng và vận hành thông minh. Hạ tầng phải được nhìn nhận trong không gian toàn vùng, không bó hẹp trong địa giới hành chính. Khi các cơ chế về TOD và BT được tháo gỡ, TP. Hồ Chí Minh sẽ chủ động hơn trong phát triển metro, đường sắt đô thị và các tuyến kết nối hướng tâm.

Với những định hướng đã được xác định trong Nghị quyết Đại hội Đảng bộ các địa phương vùng Đông Nam Bộ, các dự án hạ tầng giao thông kết nối liên vùng được kỳ vọng sẽ sớm hình thành trong giai đoạn tới, tạo nền tảng để TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Tây Ninh tháo gỡ căn bản "nút thắt" giao thông, phát huy tối đa thế mạnh của từng địa phương và của toàn vùng./.


Tin liên quan

Gỡ "nút thắt" kết nối giao thông Đông Nam Bộ - Bài 1: Điểm nghẽn hạ tầng

Đông Nam Bộ là vùng kinh tế năng động bậc nhất cả nước, có nhiều lợi thế về không gian phát triển với hệ thống cảng hàng không quốc tế, cảng biển lớn, mạng lưới giao thông trục Bắc – Nam và đường biên giới dài với nhiều cửa khẩu quốc tế. Trong bối cảnh tình hình mới, nhất là sau khi hợp nhất các địa phương, yêu cầu đầu tư hạ tầng giao thông kết nối vùng Đông Nam Bộ càng trở nên cấp thiết. Đặc biệt, Cảng hàng không quốc tế Long Thành sắp đi vào khai thác, cùng định hướng hình thành Trung tâm Tài chính và Khu thương mại tự do Cái Mép Hạ (TP. Hồ Chí Minh) được kỳ vọng sẽ tạo động lực phát triển mới cho toàn vùng.

Gỡ "nút thắt" kết nối giao thông Đông Nam Bộ - Bài 2: "Đường hướng" sẵn sàng

Nghị quyết Đại hội cũng như Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ các tỉnh Đồng Nai, Tây Ninh và TP. Hồ Chí Minh đều xác định, đầu tư hạ tầng giao thông kết nối liên vùng là một trong những trọng tâm nhằm phát huy thế mạnh của từng địa phương trong tổng thể phát triển vùng Đông Nam Bộ. Định hướng này phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 24-NQ/TW của Bộ Chính trị cũng như dự thảo Văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng.

Gỡ "nút thắt" kết nối giao thông Đông Nam Bộ – Bài 3: San sẻ nguồn lực cùng hành động

Sau khi hợp nhất các đơn vị hành chính, vùng Đông Nam Bộ cần điều chỉnh thể chế và cơ chế điều phối phát triển tương ứng với quy mô mới. Thực tế cho thấy, dù có vị thế kinh tế dẫn đầu cả nước, thể chế liên kết vùng hiện nay vẫn còn nhiều khoảng trống. Để thúc đẩy liên kết nội vùng, cần hoàn thiện thể chế liên kết vùng thông qua quy hoạch chiến lược phát triển chung, cơ chế tài chính chung, đầu tư hạ tầng trọng điểm và nâng cao hiệu lực của Hội đồng điều phối vùng.

Gỡ “nút thắt” kết nối giao thông Đông Nam Bộ - Bài 4: Tận dụng cơ chế

Thể chế liên kết kinh tế vùng Đông Nam Bộ hiện nay bao gồm chính sách phát triển vùng do Trung ương ban hành, quy hoạch vùng, Hội đồng điều phối vùng, cùng cơ chế, chính sách chung của quốc gia. Tuy nhiên, các cơ chế phối hợp liên vùng vẫn ở mức ban đầu, chưa đủ mạnh để điều hòa hiệu quả giữa các địa phương thành phần sau khi hợp nhất. Việc hợp nhất đơn vị hành chính tạo ra dư địa hợp lực lớn hơn, song cũng đặt ra yêu cầu mới về thiết lập cơ chế quản lý, điều phối chung mang tính thực chất, hiệu quả.

Tin cùng chuyên mục

Gỡ “nút thắt” kết nối giao thông Đông Nam Bộ - Bài 4: Tận dụng cơ chế

Thể chế liên kết kinh tế vùng Đông Nam Bộ hiện nay bao gồm chính sách phát triển vùng do Trung ương ban hành, quy hoạch vùng, Hội đồng điều phối vùng, cùng cơ chế, chính sách chung của quốc gia. Tuy nhiên, các cơ chế phối hợp liên vùng vẫn ở mức ban đầu, chưa đủ mạnh để điều hòa hiệu quả giữa các địa phương thành phần sau khi hợp nhất. Việc hợp nhất đơn vị hành chính tạo ra dư địa hợp lực lớn hơn, song cũng đặt ra yêu cầu mới về thiết lập cơ chế quản lý, điều phối chung mang tính thực chất, hiệu quả.

Gỡ "nút thắt" kết nối giao thông Đông Nam Bộ – Bài 3: San sẻ nguồn lực cùng hành động

Sau khi hợp nhất các đơn vị hành chính, vùng Đông Nam Bộ cần điều chỉnh thể chế và cơ chế điều phối phát triển tương ứng với quy mô mới. Thực tế cho thấy, dù có vị thế kinh tế dẫn đầu cả nước, thể chế liên kết vùng hiện nay vẫn còn nhiều khoảng trống. Để thúc đẩy liên kết nội vùng, cần hoàn thiện thể chế liên kết vùng thông qua quy hoạch chiến lược phát triển chung, cơ chế tài chính chung, đầu tư hạ tầng trọng điểm và nâng cao hiệu lực của Hội đồng điều phối vùng.

Gỡ "nút thắt" kết nối giao thông Đông Nam Bộ - Bài 2: "Đường hướng" sẵn sàng

Nghị quyết Đại hội cũng như Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ các tỉnh Đồng Nai, Tây Ninh và TP. Hồ Chí Minh đều xác định, đầu tư hạ tầng giao thông kết nối liên vùng là một trong những trọng tâm nhằm phát huy thế mạnh của từng địa phương trong tổng thể phát triển vùng Đông Nam Bộ. Định hướng này phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 24-NQ/TW của Bộ Chính trị cũng như dự thảo Văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng.

Gỡ "nút thắt" kết nối giao thông Đông Nam Bộ - Bài 1: Điểm nghẽn hạ tầng

Đông Nam Bộ là vùng kinh tế năng động bậc nhất cả nước, có nhiều lợi thế về không gian phát triển với hệ thống cảng hàng không quốc tế, cảng biển lớn, mạng lưới giao thông trục Bắc – Nam và đường biên giới dài với nhiều cửa khẩu quốc tế. Trong bối cảnh tình hình mới, nhất là sau khi hợp nhất các địa phương, yêu cầu đầu tư hạ tầng giao thông kết nối vùng Đông Nam Bộ càng trở nên cấp thiết. Đặc biệt, Cảng hàng không quốc tế Long Thành sắp đi vào khai thác, cùng định hướng hình thành Trung tâm Tài chính và Khu thương mại tự do Cái Mép Hạ (TP. Hồ Chí Minh) được kỳ vọng sẽ tạo động lực phát triển mới cho toàn vùng.

Tái cấu trúc ngành nông nghiệp TP. Hồ Chí Minh - Bài cuối: Phân vùng nông nghiệp, nâng cao giá trị gia tăng

Trong bối cảnh áp lực đô thị hóa vẫn rất lớn, nông nghiệp dễ rơi vào thế yếu nếu thiếu một quy hoạch không gian rõ ràng và cơ chế bảo vệ phù hợp. TP. Hồ Chí Minh đã xác định tái cấu trúc ngành nông nghiệp gắn với quy hoạch lại không gian phát triển theo vùng. Thay vì dàn trải nhiều loại cây, con trên cùng một địa bàn, Thành phố hướng tới phân vùng dựa trên lợi thế từng khu vực, từ điều kiện tự nhiên, hạ tầng đến khả năng kết nối thị trường. Đây được xem là bước đi mang tính chiến lược nhằm giải quyết căn cơ bài toán "đất nhiều nhưng giá trị thấp".

Tái cấu trúc ngành nông nghiệp TP. Hồ Chí Minh - Bài 1: Mở rộng không gian phát triển

Sau hợp nhất 3 địa phương, diện tích đất nông nghiệp của TP. Hồ Chí Minh tăng gấp 4 lần so với diện tích nông nghiệp của Thành phố trước đó. Không gian mở ra mang đến nhiều cơ hội để phát triển ngành nông nghiệp theo hướng hiện đại, chất lượng, giá trị gia tăng cao và gắn với thị trường. Để làm được điều này, Thành phố đã xác định quy hoạch lại không gian phát triển ngành nông nghiệp theo 3 vùng, dựa trên lợi thế của mỗi nơi để phát triển các sản phẩm nông nghiệp phù hợp với điều kiện, lợi thế từng vùng; đồng thời, cũng có các giải pháp phù hợp để kết nối thế mạnh mỗi vùng trong không gian phát triển của ngành nông nghiệp.

Quảng Ninh "bứt phá" để tạo đà cho nhiệm kỳ mới

Với ý nghĩa đặc biệt quan trong là năm "về đích" của kế hoạch 5 năm của nhiệm kỳ 2020 – 2025, đồng thời cũng là năm đầu tiên triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2025 - 2030, tỉnh Quảng Ninh chọn chủ đề công tác năm 2025 là "Bứt phá trong phát triển kinh tế, tạo đà cho nhiệm kỳ mới". Năm 2025, bức tranh phát triển kinh tế xã hội của Quảng Ninh đầy ấn tượng với những con số kỷ lục đạt đỉnh mới.