Hạ tầng tăng tốc, cơ hội hút dòng vốn quốc tế mở rộng
Việt Nam đang bước vào giai đoạn đẩy mạnh đầu tư hạ tầng quy mô lớn, từ giao thông, hàng không đến đô thị, năng lượng và kinh tế số. Nhu cầu vốn trung và dài hạn theo đó tăng lên, mở thêm dư địa cho khu vực tư nhân và dòng vốn quốc tế tham gia. Trong bối cảnh vốn đầu tư nước ngoài tiếp tục tăng, bài toán không chỉ là thu hút thêm tiền vào Việt Nam mà còn phải tạo ra những dự án đủ chất lượng, minh bạch và khả thi để hấp thụ dòng vốn này. Điều này cũng phù hợp với tinh thần của Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.


Phối cảnh Cảng hàng không quốc tế Gia Bình. Ảnh: TTXVN phát

* Hạ tầng lớn mở rộng nhu cầu vốn dài hạn

Giai đoạn 2026-2030, Việt Nam đang đẩy nhanh đầu tư vào mạng lưới giao thông chiến lược, hạ tầng đô thị, năng lượng và kinh tế số. Quy mô ngày càng lớn của các dự án kéo theo nhu cầu huy động nguồn lực vượt ra ngoài ngân sách và tín dụng ngân hàng.

Cảng hàng không quốc tế Gia Bình là một trong những dự án có quy mô vốn đáng chú ý, với tổng mức đầu tư khoảng 196.378 tỷ đồng. Dự án được triển khai theo nhiều giai đoạn, trong đó giai đoạn đầu hướng tới hoàn thành các hạng mục cần thiết phục vụ APEC 2027.

Đến năm 2030, sân bay này dự kiến đạt công suất khoảng 30 triệu hành khách và 1,6 triệu tấn hàng hóa mỗi năm. Một số công trình bảo đảm hoạt động bay liên quan được triển khai theo phương thức đối tác công tư (PPP), cho thấy xu hướng đa dạng hóa nguồn lực cho các dự án hạ tầng lớn.

Không gian huy động vốn quốc tế cũng đang được mở rộng sang lĩnh vực đường sắt. Tháng 8/2026, Bộ Xây dựng đề xuất đưa bốn dự án đường sắt vào dự thảo Danh mục quốc gia các dự án kêu gọi đầu tư nước ngoài giai đoạn 2026-2030. Bốn dự án gồm Biên Hòa - Vũng Tàu, TP. Hồ Chí Minh - Cần Thơ - Cà Mau, Mụ Giạ - Vũng Áng và Tháp Chàm - Đà Lạt, với tổng vốn đầu tư dự kiến khoảng 445.100 tỷ đồng, tương đương 17 tỷ USD. Các dự án được đề xuất triển khai theo phương thức PPP.

Việc danh mục dự án ngày càng mở rộng cho thấy nhu cầu vốn cho phát triển hạ tầng đang chuyển sang quy mô mới. Với những dự án có tổng mức đầu tư hàng trăm nghìn tỷ đồng và thời gian hoàn vốn dài, chỉ dựa vào một kênh vốn sẽ khó đáp ứng.

Đầu tư công vẫn đóng vai trò dẫn dắt, trong khi tín dụng ngân hàng tiếp tục là nguồn vốn quan trọng. Tuy nhiên, thị trường vốn, PPP, liên doanh, M&A và các hình thức hợp tác đầu tư có thể bổ sung nguồn lực trung và dài hạn.

Theo PGS.TS Trần Chủng - Chủ tịch Hiệp hội Các nhà đầu tư công trình giao thông đường bộ Việt Nam, huy động nguồn lực tư nhân, đặc biệt là vốn tín dụng, vẫn là một trong những nút thắt lớn của các dự án PPP hạ tầng giao thông.

Điều này cho thấy việc mở rộng cơ hội đầu tư mới chỉ là bước đầu. Để biến các dự án hạ tầng thành kênh thu hút vốn dài hạn, cấu trúc tài chính, cơ chế chia sẻ rủi ro và khả năng tạo dòng tiền của dự án cũng cần đủ sức thuyết phục nhà đầu tư.

* Dòng vốn quốc tế tìm kiếm dự án có nền tảng rõ ràng

Trong 7 tháng của năm 2026, tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký mới, điều chỉnh và góp vốn, mua cổ phần đạt 38,06 tỷ USD, tăng 58% so với cùng kỳ năm trước. Ảnh minh họa: TTXVN

Nhu cầu huy động vốn gia tăng trong bối cảnh dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam tiếp tục tăng.

Trong 7 tháng của năm 2026, tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký mới, điều chỉnh và góp vốn, mua cổ phần đạt 38,06 tỷ USD, tăng 58% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn đăng ký mới đạt 21,05 tỷ USD, vốn điều chỉnh 10,43 tỷ USD và vốn thông qua góp vốn, mua cổ phần đạt 6,58 tỷ USD. Vốn đầu tư thực hiện đạt 15,2 tỷ USD, tăng 11,8%.

Đáng chú ý, giá trị góp vốn, mua cổ phần tăng 61,6% so với cùng kỳ. Bất động sản tiếp tục nằm trong nhóm ngành thu hút vốn nước ngoài lớn nhất, đứng thứ hai sau công nghiệp chế biến, chế tạo với 5,65 tỷ USD vốn đăng ký, tương đương 14,9% tổng vốn.

Theo ông Neil MacGregor, Tổng giám đốc Savills Việt Nam, những con số này cho thấy Việt Nam tiếp tục duy trì sức hấp dẫn đối với dòng vốn quốc tế. Tuy nhiên, khi quy mô và phạm vi cơ hội đầu tư mở rộng, nhà đầu tư cũng ngày càng chú trọng đến chất lượng dự án, năng lực triển khai và tính rõ ràng của cấu trúc đầu tư.

"Việt Nam không thiếu cơ hội đầu tư. Điều quan trọng trong giai đoạn tiếp theo là chuyển những cơ hội này thành các dự án có khả năng thu hút và sử dụng vốn hiệu quả", ông Neil MacGregor nói.

Theo ông MacGregor, nhà đầu tư không chỉ xem xét tiềm năng tăng trưởng mà còn đánh giá tính rõ ràng về pháp lý, cấu trúc sở hữu, tính khả thi của kế hoạch phát triển và khả năng triển khai trong dài hạn.

Thực tế, dòng vốn quốc tế không chỉ tìm đến các dự án mới. Nhà đầu tư có thể tham gia thông qua góp vốn, mua cổ phần, M&A, liên doanh hoặc hợp tác phát triển. Với những dự án đã có nền tảng nhất định, các hình thức này giúp nhà đầu tư tiếp cận thị trường nhanh hơn, đồng thời bổ sung nguồn lực để dự án tiếp tục triển khai.

Trong 7 tháng qua, Cục Đầu tư nước ngoài ghi nhận 1.815 giao dịch góp vốn, mua cổ phần, với tổng giá trị tăng 61,6% so với cùng kỳ. Một số nhà đầu tư lựa chọn hình thức này để nhanh chóng tiếp cận mạng lưới khách hàng, hệ thống phân phối và nền tảng pháp lý sẵn có thay vì xây dựng hoàn toàn từ đầu.

Tuy nhiên, dòng vốn tăng không đồng nghĩa mọi dự án đều có khả năng tiếp cận vốn như nhau. Với các dự án quy mô lớn, nhà đầu tư thường phải thẩm định tình trạng pháp lý, quyền sử dụng đất, cấu trúc sở hữu, nghĩa vụ tài chính, tính khả thi của kế hoạch phát triển và khả năng tạo dòng tiền bền vững.

Đây có thể trở thành yếu tố phân hóa rõ hơn thị trường trong giai đoạn tới. Những dự án pháp lý chưa hoàn chỉnh, cấu trúc sở hữu phức tạp hoặc kế hoạch tài chính thiếu khả thi sẽ khó cạnh tranh với những dự án có nền tảng minh bạch và khả năng triển khai rõ ràng.

Ở chiều ngược lại, doanh nghiệp Việt Nam có lợi thế về hiểu biết thị trường, kinh nghiệm phát triển dự án và năng lực triển khai tại địa phương. Khi kết hợp với nguồn vốn, kinh nghiệm quản trị và mạng lưới quốc tế, M&A, liên doanh và hợp tác đầu tư có thể mở thêm cơ hội đưa dự án vào triển khai.

"Hạ tầng đang mở rộng phạm vi các thị trường mà dòng vốn quốc tế có thể tiếp cận tại Việt Nam", ông Neil MacGregor nhận định. Tuy nhiên, kết nối được cải thiện sẽ tạo thêm dư địa cho các địa điểm đầu tư mới, nhưng hạ tầng, nguồn điện, logistics và các dịch vụ hỗ trợ cũng phải theo kịp khi quy mô đầu tư tăng.

Vì vậy, cuộc cạnh tranh để thu hút vốn trong giai đoạn tới có thể không còn nằm ở câu chuyện Việt Nam có bao nhiêu cơ hội đầu tư, mà là dự án nào đủ điều kiện để nhận vốn. Với doanh nghiệp, năng lực huy động vốn sẽ ngày càng gắn với chất lượng tài sản, mức độ minh bạch, cấu trúc đầu tư và khả năng biến kế hoạch thành dòng tiền thực tế.

Với nền kinh tế, việc mở rộng các kênh vốn chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi nguồn lực được kết nối với những dự án có khả năng triển khai, tạo giá trị và duy trì dòng tiền trong dài hạn./.


Tin liên quan

Nghị quyết 57: Đột phá chiến lược chuyển đổi số hạ tầng giao thông

Việc ứng dụng khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đang trở thành "chìa khóa" giúp nâng cao năng lực quản trị, tối ưu hóa nguồn lực và mở ra không gian phát triển mới cho kết cấu hạ tầng giao thông Việt Nam.

Tin cùng chuyên mục

Rộn ràng mái trường dân tộc nội trú trước ngày tựu trường

Trước thềm năm học 2026 - 2027, Trường Phổ thông Dân tộc Nội trú Tây Ninh đang hoàn tất các điều kiện đón hơn 580 học sinh trở lại trường. Từ phòng học, ký túc xá, bếp ăn đến công tác y tế, dinh dưỡng đều được chuẩn bị chu đáo, tạo môi trường học tập, sinh hoạt an toàn để học sinh dân tộc thiểu số và vùng khó khăn yên tâm học tập, nuôi dưỡng ước mơ.

Cán bộ trẻ tạo sức bật mới từ cơ sở ở Lạng Sơn

Sau sắp xếp, sáp nhập thôn, tổ dân phố, đội ngũ cán bộ trẻ ở cơ sở tỉnh Lạng Sơn đang từng bước khẳng định vai trò bằng sự năng động, sáng tạo và tinh thần gần dân. Từ ứng dụng chuyển đổi số, vận dụng pháp luật trong hòa giải đến hướng dẫn người dân phát triển kinh tế, họ đang trở thành lực lượng nòng cốt, góp phần tháo gỡ những vấn đề từ cơ sở và tạo động lực phát triển cho địa phương.

Nàng Han – Huyền thoại trở về

Những bản làng xưa, nay chỉ còn là hoài niệm dưới lòng hồ thủy điện sông Đà. Nhưng câu chuyện về Nàng Han - biểu tượng cho tinh thần kiên cường và lòng yêu nước của người Thái trắng vẫn ngân vang qua nhiều thế hệ. Trên hành trình tái thiết cuộc sống, từ sự chung sức, đồng lòng của cộng đồng, nghệ nhân và chính quyền địa phương, huyền thoại về vị nữ tướng năm xưa đang từng bước sống lại giữa nhịp sống mới ở Mường Chiên, Sơn La.

500 ngày đêm – Nỗ lực không ngừng tìm lại tên cho đồng đội

Chiến tranh đã lùi xa, nhưng với hàng trăm nghìn gia đình, cuộc chiến tìm kiếm người thân vẫn chưa kết thúc. Đó là hành trình đi tìm những phần mộ chưa được xác định danh tính, tìm kiếm những hài cốt còn nằm lại đâu đó trên những chiến trường xưa, và trên hết, là hành trình đưa những người đã hy sinh trở về với tên tuổi, quê hương và gia đình.

Sức sống mới ở Văn Lang – Bứt phá từ những chính sách đa chiều

Bước vào giai đoạn phát triển mới, xã Văn Lang, tỉnh Phú Thọ đã và đang chứng minh một sự trỗi dậy mạnh mẽ. Giảm nghèo ở đây không còn là những giải pháp trợ cấp ngắn hạn, mà được giải bằng bài toán chiến lược đa chiều: Đột phá kinh tế liên kết, Ưu tiên nguồn lực cho giáo dục toàn diện và Tiên phong đưa chuyển đổi số về tận từng khu dân cư. 6 tháng đầu năm 2026, tốc độ tăng tổng giá trị sản phẩm trên địa bàn xã đạt bình quân 8%, vẽ nên một bức tranh kinh tế - xã hội bừng sáng.

Biên phòng Lào Cai tiên phong chuyển đổi số trong quản lý cửa khẩu

Cửa khẩu quốc tế Lào Cai giữ vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng trong hệ thống cửa khẩu biên giới đất liền Việt Nam – Trung Quốc. Thời gian qua, nhờ ứng dụng nền tảng cửa khẩu số vận hành, thời gian thông quan hàng hóa và xuất nhập cảnh cho người đã được rút ngắn thời gian, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp.

Nhân tài là nguồn lực chiến lược đặc biệt của quốc gia

Từ xa xưa, cha ông ta đã coi “hiền tài là nguyên khí quốc gia”. Kế thừa truyền thống ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh phát triển thành tư tưởng trọng dụng nhân tài và nghệ thuật dùng người đầy sâu sắc. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nhiều trí thức, học giả, giáo sĩ, quan lại đã được Bác vận động, thuyết phục tham gia chính quyền cách mạng. Cách dùng người của Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện sự trọng thị, tầm nhìn chiến lược, lòng nhân ái và tư tưởng đại đoàn kết, qua đó quy tụ sức mạnh của nhiều tầng lớp nhân dân vào sự nghiệp xây dựng, bảo vệ đất nước.