![]() |
| Metro Bến Thành - Suối Tiên. |
| Ảnh: Hồng Đạt - TTXVN |
Nghị quyết 09-NQ/TW của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển TP. Hồ Chí Minh trong kỷ nguyên mới đặt mục tiêu đến năm 2030 hoàn thành 200 km đường sắt đô thị (metro), tiến tới cơ bản hoàn thiện mạng lưới metro vào năm 2045. Đây không chỉ là yêu cầu phát triển hạ tầng giao thông mà còn là cơ hội để Thành phố tái cấu trúc không gian đô thị, hình thành các cực tăng trưởng mới. Trong bối cảnh đang triển khai lập Quy hoạch tổng thể TP. Hồ Chí Minh tầm nhìn 100 năm, hệ thống đường sắt đô thị được xác định là “xương sống” để tổ chức lại không gian đô thị và triển khai mô hình phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng (TOD).
Bài 1: Áp lực và cơ hội
Từ một dự án giao thông, metro đang trở thành nhiệm vụ chiến lược gắn với tương lai phát triển của TP. Hồ Chí Minh. Mục tiêu hoàn thành khoảng 200 km đường sắt đô thị vào năm 2030 theo Nghị quyết 09-NQ/TW đặt ra áp lực rất lớn về tiến độ và nguồn lực, nhưng cũng mở ra cơ hội để Thành phố tái cấu trúc không gian phát triển, hình thành các cực tăng trưởng mới và nâng cao năng lực cạnh tranh trong dài hạn.
*Áp lực lớn
Theo quy hoạch, mạng lưới đường sắt đô thị TP. Hồ Chí Minh (mới) có tổng chiều dài 1.024 km với 27 tuyến (bao gồm 12 tuyến khu vực TP. Hồ Chí Minh, 12 tuyến khu vực Bình Dương, 3 tuyến khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu trước đây). Giai đoạn từ nay đến năm 2030, Thành phố sẽ phải hoàn thành gần 200 km đường sắt đô thị và đến năm 2035 là khoảng 450 km.
Đầu năm 2025, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 188/2025/QH15 về một số cơ chế đặc thù, đặc biệt phát triển đường sắt đô thị tại thành phố Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh. Đây là dấu mốc rất quan trọng, thể hiện bước chuyển căn bản trong tư duy và phương thức tổ chức đầu tư phát triển đường sắt đô thị. Hiện UBND TP. Hồ Chí Minh đã giao nhiệm vụ chuẩn bị đầu tư 7 tuyến đường sắt đô thị theo Nghị quyết 188 và 2 tuyến đường sắt đô thị số 1 và số 2 trên địa bàn tỉnh Bình Dương (trước hợp nhất) cho Ban Quản lý Đường sắt đô thị tổ chức thực hiện.
Ban Chỉ đạo phát triển hệ thống mạng lưới đường sắt thành phố cũng chỉ đạo tập trung ưu tiên đầu tư 6 dự án trong giai đoạn 2025-2030, gồm tuyến số 2 (đoạn Bến Thành – Tham Lương); tuyến số 2 (đoạn Bến Thành – Thủ Thiêm); tuyến Thủ Thiêm – Long Thành; tuyến thành phố mới Bình Dương – Suối Tiên; tuyến số 6 giai đoạn 1 (sân bay Tân Sơn Nhất - Phú Hữu); tuyến Bến Thành - Cần Giờ. Đến năm 2030, Thành phố phấn đấu hoàn thành khoảng 187 km đường sắt đô thị, sơ bộ tổng mức đầu tư trên 19 tỷ USD.
Khối lượng công việc này lớn gấp nhiều lần những gì Thành phố đã thực hiện trong hơn hai thập niên phát triển metro trước đây, đòi hỏi sự thay đổi mạnh mẽ về cơ chế đầu tư, tổ chức thực hiện và huy động nguồn lực.
Theo Tiến sĩ Châu Vũ, Phó Chánh Văn phòng Đoàn Đại biểu Quốc hội và HĐND TP. Hồ Chí Minh, tinh thần rất mới của Nghị quyết 09-NQ/TW là định hướng phát triển TP. Hồ Chí Minh theo mô hình siêu đô thị đa trung tâm, đa cực tăng trưởng, gắn với liên kết vùng và hệ thống hạ tầng chiến lược hiện đại. Trong định hướng phát triển mới, TP. Hồ Chí Minh đang đồng thời triển khai nhiều hệ thống hạ tầng chiến lược quy mô rất lớn như vành đai, các tuyến cao tốc liên kết vùng…
Tuy nhiên, theo Tiến sĩ Châu Vũ, nền tảng quan trọng nhất để tổ chức lại không gian siêu đô thị trong dài hạn vẫn là hệ thống giao thông công cộng khối lượng lớn, đặc biệt là metro. Nếu metro chỉ được nhìn như một dự án giao thông, TP. Hồ Chí Minh sẽ bỏ lỡ cơ hội tái cấu trúc toàn bộ mô hình phát triển đô thị.
Ở góc độ quy hoạch chiến lược, Tiến sĩ Châu Vũ cho rằng, TP. Hồ Chí Minh cần được phát triển theo mô hình siêu đô thị đa trung tâm dựa trên các hành lang giao thông công cộng. Trong cấu trúc đó, metro không chỉ là hạ tầng vận tải, mà phải trở thành “khung xương” để tổ chức lại toàn bộ không gian phát triển đô thị. Theo định hướng này, mô hình phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng cần được xem là nền tảng phát triển chủ đạo của TP. Hồ Chí Minh trong nhiều thập niên tới.
Theo Trưởng Khoa Quy hoạch (Trường Đại học Kiến trúc TP. Hồ Chí Minh) Phạm Ngọc Tuấn, Khung hạ tầng chiến lược mới là động lực quan trọng bảo đảm năng lực cạnh tranh của TP. Hồ Chí Minh trong tầm nhìn 100 năm. Trọng tâm trước hết là phát triển hệ thống giao thông công cộng khối lượng lớn gồm metro, đường sắt vùng và đường sắt tốc độ cao, từng bước trở thành phương thức đi lại chủ đạo, đáp ứng khoảng 60 – 80% nhu cầu di chuyển của toàn vùng đô thị. Đây là cơ sở để giảm phụ thuộc vào phương tiện cá nhân, nâng cao hiệu quả sử dụng đất và định hướng phát triển đô thị theo mô hình giao thông công cộng.
*Mở không gian phát triển
Nghị quyết 09-NQ/TW xác định giai đoạn 2026 - 2030, TP. Hồ Chí Minh hoàn thành khoảng 200 km đường sắt đô thị. Để thực hiện mục tiêu này, giải pháp là tạo bước đột phá về hệ thống kết cấu hạ tầng, đầu tư hoàn thiện hệ thống kỹ thuật chung đô thị theo quy hoạch. Ưu tiên đầu tư hoàn chỉnh mạng lưới đường sắt đô thị Thành phố, phát triển hạ tầng kết nối cảng biển - sân bay - khu công nghiệp - khu thương mại tự do.
Trên cơ sở Nghị quyết 09-NQ/TW, Giám đốc Trung tâm Tư vấn Ứng dụng kinh tế (Viện Nghiên cứu phát triển TP. Hồ Chí Minh) Lê Thanh Hải cho rằng, đường sắt đô thị và đường sắt vùng - “xương sống” phải làm trước và đây là ưu tiên số 1. Tất cả mô hình đô thị đa cực, giao thông công cộng, giảm phụ thuộc ô tô, tăng chất lượng sống, hỗ trợ trung tâm tài chính đều phụ thuộc vào hệ thống đường sắt. Tiến độ như trước đây quá chậm, từ khi quy hoạch metro số 1 (đầu thập niên 2000) đến khi vận hành chính thức (cuối 2024) mất hơn 20 năm.
Theo ông Lê Thanh Hải, nếu với tốc độ này, đến 2050 TP. Hồ Chí Minh cũng chưa có mạng lưới hoàn chỉnh. Do vậy, phải có một bước đột phá thực sự về cơ chế, tách dự án đường sắt khỏi quy trình ODA truyền thống, chấp nhận mô hình đối tác công tư (PPP) kết hợp value capture (doanh nghiệp thu lại giá trị từ sản phẩm), học mô hình metro Singapore hoặc metro Hồng Kông (Trung Quốc) là tự tài trợ một phần qua phát triển bất động sản quanh ga.
Trong 10 năm tới, Thành phố phải hoàn thành tối thiểu metro số 2, 3a, 4, 5 (lõi mạng lưới), mở rộng metro số 1 đi Bình Dương (Thuận An – Dĩ An) và Đồng Nai, đồng thời khởi công đường sắt vùng nối Long Thành, Cần Giờ, Vũng Tàu. Từ thực tế đó, yêu cầu đẩy nhanh tiến độ các tuyến metro không chỉ là nhiệm vụ phát triển hạ tầng giao thông mà còn trở thành điều kiện tiên quyết để hiện thực hóa mô hình phát triển mới của Thành phố.
Thời gian ngắn gần đây, hàng loạt dự án đường sắt đô thị của TP. Hồ Chí Minh đã được triển khai hoặc đang nghiên cứu đầu tư như Bến Thành - Cần Giờ, Bến Thành - Tham Lương, Bến Thành - Thủ Thiêm, Thủ Thiêm - Long Thành, Thành phố mới Bình Dương - Suối Tiên và metro số 6 giai đoạn 1. Đây được xem là tín hiệu cho thấy quá trình phát triển đường sắt đô thị đã chuyển từ giai đoạn chuẩn bị cơ chế sang triển khai thực chất trên thực địa.
Theo Nghị quyết 09-NQ/TW của Bộ Chính trị, đến năm 2045, TP. Hồ Chí Minh hoàn thành kết nối hệ thống đường sắt đô thị. Điều này đặt ra áp lực rất lớn cho Thành phố trong 20 năm tới. Tuy vậy, Nghị quyết đã mở ra nhiều thể chế đột phá, vượt trội, tạo thuận lợi để Thành phố thực hiện mục tiêu này như Luật Đô thị đặc biệt, phát huy mạnh mẽ kinh tế tư nhân, cơ chế khai thác nguồn lực từ đất đai…
Hiện nhiều doanh nghiệp đã và đang triển khai, nghiên cứu thực hiện các dự án metro tại TP. Hồ Chí Minh. Tập đoàn Vingroup làm đường sắt Bến Thành - Cần Giờ, Tập đoàn Thaco làm metro số 2 đoạn Bến Thành - Thủ Thiêm, hoàn thiện nghiên cứu đường sắt Thủ Thiêm - Long Thành…
Việc đồng loạt triển khai các dự án cho thấy quá trình phát triển đường sắt đô thị của TP. Hồ Chí Minh đã bước sang giai đoạn mới, từ chuẩn bị cơ chế sang tổ chức thực hiện trên thực địa. Đây không chỉ là tiền đề để hiện thực hóa mục tiêu hoàn thành khoảng 200 km đường sắt đô thị vào năm 2030, mà còn là bước khởi đầu cho quá trình tái cấu trúc không gian phát triển của TP. Hồ Chí Minh theo mô hình siêu đô thị đa trung tâm trong những thập niên tới./.
Bài cuối: Giao thông công cộng làm “xương sống”

