Huế mở rộng cảng Chân Mây, tạo động lực phát triển kinh tế biển
Thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, thành phố Huế tập trung vào các ngành dịch vụ, trung tâm logistics, du lịch biển, kinh tế hàng hải.
Công trình Cảng Chân Mây phát huy lợi thế của cảng biển nước sâu tự nhiên để nâng cao năng lực bốc dỡ, lưu giữ hàng hóa qua cảng, nhất là hàng conatiner đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Ảnh minh họa: Đỗ Trưởng - TTXVN

Thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, thành phố Huế tập trung vào các ngành dịch vụ, trung tâm logistics, du lịch biển, kinh tế hàng hải; phát triển các đô thị ven biển, đầm phá; nuôi trồng, khai thác và chế biến hải sản đi đôi với bảo vệ môi trường biển; phát triển công nghiệp ven biển, chú trọng năng lượng điện khí LNG, gắn với phát triển hệ thống cảng biển.

Với hệ thống cảng biển, thành phố Huế phát triển các khu bến chính gồm: Chân Mây, Thuận An, Phong Điền; trong đó, cảng biển nước sâu Chân Mây ở Khu kinh tế Chân Mây-Lăng Cô là khu bến trọng điểm.

Cảng Chân Mây hiện khai thác với 3 bến cảng. Bến tổng hợp container số 4 và 5 của cảng Chân Mây được đầu tư từ năm 2022 với tổng vốn hơn 1.678 tỷ đồng; trong đó, bến số 4 dự kiến hoàn thành cuối năm 2026, bến số 5 dự kiến hoàn thành năm 2028. Bến số 6 đã được chấp thuận chủ trương đầu tư đầu năm 2026 với vốn trên 928 tỷ đồng. Bến số 7 và 8, thành phố Huế đang nghiên cứu lựa chọn nhà đầu tư đủ năng lực thực hiện đồng bộ cả hai bến.

Tổng Giám đốc Công ty cổ phần cảng Chân Mây Huỳnh Văn Toàn cho biết, để hiện thực hóa xây dựng cảng Chân Mây trở thành trung tâm logistics của khu vực miền Trung, thời gian tới tiếp tục đầu tư hoàn thiện hạ tầng; đặc biệt là tuyến vận tải chiến lược đưa hàng hóa đến cảng là Hành lang kinh tế Đông-Tây kết nối với Quốc lộ 1A.

Quyết định số 1019/QĐ-BXD của Bộ Xây dựng về phê duyệt quy hoạch chi tiết phát triển vùng đất, vùng nước cảng biển Huế thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, đề ra mục tiêu xây dựng cảng biển Huế thành đầu mối giao thương hàng hóa, dịch vụ logistics và du lịch quốc tế. Đến năm 2030, tổng lượng hàng hóa thông qua cảng biển ở Huế đạt từ 13,6-20,3 triệu tấn; lượng hành khách từ 276.100-285.000 lượt/năm. Hệ thống cảng biển ở Huế có tổng số 10 bến cảng với 19-25 cầu cảng, tổng chiều dài cầu cảng từ 4.725-6.125 m được phát triển đồng bộ.

Thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW, thành phố Huế cũng chú trọng phát triển điện khí ven biển. Dự án điện khí LNG Chân Mây tại Khu kinh tế Chân Mây-Lăng Cô, vốn đầu tư dự kiến khoảng 5,4 tỷ USD, công suất 4.000 MW, đã được bổ sung vào quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, theo Quyết định số 500/QĐ-TTg ngày 15/5/2023 của Thủ tướng Chính phủ. Dự án điện khí LNG Chân Mây là vị trí tiềm năng, dự phòng cho các dự án chậm tiến độ, dự kiến thực hiện trong giai đoạn 2031-2035. Dự kiến khi hoạt động, hằng năm nhà máy sẽ cung cấp sản lượng điện trung bình 24-25 tỷ kWh.

Thành phố Huế phấn đấu, đến năm 2030 kinh tế vùng biển và đầm phá đóng góp vào GRDP khoảng 45-50%. Xây dựng thành phố Huế trở thành một trong những trung tâm kinh tế biển mạnh của cả nước, là cực tăng trưởng, động lực phát triển của vùng động lực miền Trung với hệ thống cảng biển nước sâu Chân Mây đồng bộ, hiện đại gắn với phát triển chuỗi khu kinh tế, khu công nghiệp, đô thị biển và hệ đầm phá Tam Giang-Cầu Hai.

Để đạt mục tiêu này, thành phố Huế huy động, sử dụng hiệu quả các nguồn lực để tiếp tục phát triển nhanh và bền vững các ngành kinh tế biển. Đột phá phát triển các ngành kinh tế biển hiện đại, xanh, thông minh và các ngành, lĩnh vực biển mới; phát triển đồng bộ hạ tầng biển; bảo vệ môi trường, bảo tồn hệ sinh thái biển./.

Tin liên quan

An Giang đặt mục tiêu giàu mạnh từ biển

Thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương về “Xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh”, An Giang nỗ lực, quyết tâm trở thành tỉnh giàu từ biển, trung tâm kinh tế biển mạnh của quốc gia.

Ứng dụng khoa học, công nghệ, nâng cao giá trị kinh tế biển

Khi về thăm làng cá Cát Bà ngày 31/3/1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Biển bạc của ta do dân ta làm chủ.” Lời dạy ngắn gọn nhưng thể hiện tầm nhìn sâu sắc của Người về giá trị kinh tế to lớn của biển. Với Bác, biển không chỉ là một không gian rộng lớn mà còn là nguồn tài nguyên quý giá, có thể đem lại sinh kế và tạo ra của cải cho nhân dân. “Làm chủ” biển vì thế cũng hàm chứa trách nhiệm chủ động khai thác những tiềm năng, lợi thế mà biển mang lại, từ đánh bắt, nuôi trồng thủy sản đến các hoạt động kinh tế gắn với biển. Tư tưởng ấy cho thấy Bác đã sớm quan tâm đến việc phát huy nguồn lực biển để phục vụ đời sống nhân dân và xây dựng đất nước.

Tin cùng chuyên mục

Hiện thực hóa chính sách trọng dụng nhân tài

Thước đo thành công của chính sách nhân tài không nằm ở những quan điểm, tư duy trong một kết luận hay một chương trình hành động trên giấy, mà nằm ở khả năng hiện thực hóa các chính sách đó.

Học và làm theo Bác đang thấm sâu vào mỗi người dân vùng biển

Noi gương học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh, nhiều năm qua, ông Nguyễn Văn Nhỏ, Bí thư Chi bộ ấp Phước Hiệp (xã Long Hải, Thành phố Hồ Chí Minh) đã nỗ lực vươn lên làm giàu chính đáng, chấp hành nghiêm pháp luật và hết lòng hỗ trợ cộng đồng.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Cắt giảm thủ tục phải đi đôi với kiểm soát an toàn

Đánh giá hai dự luật liên quan trực tiếp đến an ninh quốc gia, sự an toàn của người dân và sự phát triển của đất nước, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cho rằng, yêu cầu đặt ra là phải phòng ngừa sớm, quản lý đúng trách nhiệm, tạo thuận lợi cho hoạt động hợp pháp của người dân và tổ chức.

Bài 3: Đổi cách nghĩ, xoay cách làm: Cỗ xe kinh tế Việt Nam sẵn sàng bứt tốc đường dài

Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI không chỉ là bước “khởi động” cho một nhiệm kỳ mới, mà như tiếng trống lệnh vang dội, giục giã cả guồng máy quốc gia tăng tốc vào kỷ nguyên phát triển. Từ việc kiện toàn nhân sự đến định hình chiến lược phát triển nhanh, bền vững, mọi chuyển động đều cho thấy một tinh thần đổi mới rõ rệt và khát vọng vươn lên mạnh mẽ.

Bài 2: Quốc hội hành động: “Mở đường” thể chế, quyết sách định hình tương lai đất nước

Đất nước ta đang bước vào giai đoạn mới với những vận hội lớn đan xen vô vàn thách thức phức tạp từ những biến động khôn lường của địa chính trị, địa kinh tế toàn cầu. Trong bối cảnh ấy, không có chỗ cho sự chần chừ hay những nhịp nghỉ mang tính “độ trễ” chuyển giao. Nhận thức sâu sắc sứ mệnh lịch sử đó, ngay đầu nhiệm kỳ mới trong “Kỷ nguyên vươn mình” - Quốc hội khóa XVI đã chủ động “mở đường” thể chế, thông qua hàng loạt quyết sách định hình tương lai đất nước.

Bài 1: Quyết liệt kiện toàn bộ máy Nhà nước hành động vì Nhân dân

Trong tiến trình phát triển của dân tộc, con người luôn được xác định là trung tâm, là chủ thể, là động lực quyết định sự thành công của mọi chiến lược. Vì thế, trong bối cảnh đất nước ta bước vào giai đoạn mới với những vận hội lớn đan xen vô vàn thách thức phức tạp từ những biến động khôn lường của địa chính trị, địa kinh tế toàn cầu, việc kiện toàn nhân sự cấp cao, đặc biệt là người gánh vác trọng trách quốc gia càng trở nên cấp thiết!