Khi dữ liệu số trở thành "mạch nối" liên kết vùng
Liên kết vùng là yếu tố quyết định việc hình thành vùng quy hoạch và các liên kết, hợp tác trong phát triển các ngành kinh tế, tạo động lực thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển của vùng. Để hiện thực hóa mục tiêu này, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang đẩy mạnh hoàn thiện, kết nối và chia sẻ các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành về đất đai, tài nguyên nước, khí tượng thủy văn, môi trường, nông nghiệp, thủy sản và lâm nghiệp, hướng tới quản trị vùng dựa trên dữ liệu số.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang hoàn thiện cơ sở dữ liệu chuyên ngành, hướng tưới quản trị vùng dựa trên dữ liệu số. Ảnh minh họa: Nguyễn Huy Thành – TTXVN


Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, thời gian qua, nhiều chuỗi liên kết sản xuất nông nghiệp quy mô vùng đã được hình thành, góp phần khai thác hiệu quả lợi thế của từng vùng kinh tế - xã hội. Sự phối hợp giữa các địa phương trong quản lý tài nguyên nước, bảo vệ môi trường, phòng chống thiên tai, phát triển thủy sản và lâm nghiệp cũng từng bước được tăng cường.

Song song với đó, dữ liệu ngành đã từng bước được kết nối, chia sẻ để phục vụ điều phối vùng. Cơ chế chia sẻ thông tin về cơ sở sản xuất, vùng trồng, cơ sở đóng gói, cảnh báo mất an toàn thực phẩm ngày càng hoàn thiện. Hệ thống truy xuất nguồn gốc, mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói cũng được triển khai đồng bộ hơn giữa các địa phương, tạo điều kiện nâng cao năng lực quản lý và đáp ứng yêu cầu của thị trường xuất khẩu.

Tuy nhiên, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho rằng liên kết vùng vẫn còn nhiều điểm nghẽn cần tháo gỡ. Trước hết, hệ thống chính sách, pháp luật về liên kết vùng chưa hoàn thiện. Các quy định về cơ chế phối hợp, phân công trách nhiệm, chia sẻ lợi ích và xử lý các vấn đề liên vùng còn thiếu hoặc chưa đủ cụ thể, khiến việc triển khai trên thực tế gặp nhiều khó khăn. Nhiều hoạt động liên kết vẫn chủ yếu dựa trên các thỏa thuận hợp tác, chưa có cơ chế ràng buộc pháp lý đủ mạnh nên hiệu quả chưa cao.

Bên cạnh đó, vai trò điều phối của các tổ chức điều phối vùng còn hạn chế do thiếu thẩm quyền, nguồn lực và công cụ cần thiết. Quy mô sản xuất của nhiều địa phương vẫn nhỏ lẻ, việc ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản còn chậm. Dù đã hình thành một số chuỗi liên kết giữa doanh nghiệp và người dân, song tính bền vững và khả năng lan tỏa chưa cao.

Một hạn chế khác là hệ thống hạ tầng phục vụ liên kết vùng, đặc biệt là giao thông, logistics, thủy lợi, phòng chống thiên tai và hạ tầng số, vẫn thiếu đồng bộ, ảnh hưởng đến hiệu quả kết nối giữa các địa phương.

Để khắc phục những tồn tại này, Bộ Nông nghiệp và Môi trường xác định dữ liệu số sẽ là nền tảng quan trọng cho quản trị và điều phối phát triển liên vùng.

Hiện nay, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang quản lý hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành cùng các nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu có khả năng hỗ trợ hiệu quả công tác quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, điều hòa nguồn nước, phát triển sản xuất nông nghiệp, phòng chống thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Việc kết nối, liên thông và chia sẻ dữ liệu giữa các địa phương đang từng bước được hoàn thiện, tạo nền tảng cho quản trị vùng dựa trên dữ liệu số. Trong số đó, cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai cung cấp thông tin về hiện trạng sử dụng đất, quy hoạch và quỹ đất phục vụ phát triển hạ tầng, sản xuất. Hệ thống bản đồ số, dữ liệu địa lý và đo đạc quốc gia giúp tích hợp dữ liệu không gian giữa các địa phương, phục vụ xây dựng quy hoạch vùng và quy hoạch ngành.

Các cơ sở dữ liệu viễn thám, tài nguyên nước, môi trường, khí tượng thủy văn cũng đóng vai trò quan trọng trong giám sát biến động tài nguyên, theo dõi chất lượng môi trường, điều hòa nguồn nước liên tỉnh, dự báo thiên tai và hỗ trợ ra quyết định trên phạm vi vùng và liên vùng.

Đối với lĩnh vực nông nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã xây dựng nhiều cơ sở dữ liệu chuyên ngành phục vụ công tác quản lý, điều hành. Cơ sở dữ liệu thủy sản hỗ trợ quản lý khai thác và nuôi trồng, kết nối dữ liệu nghề cá giữa các địa phương ven biển. Dữ liệu về trồng trọt và bảo vệ thực vật phục vụ quản lý vùng sản xuất tập trung, mã số vùng trồng và giám sát dịch hại liên vùng. Trong khi đó, hệ thống dữ liệu chăn nuôi, thú y, thủy lợi và lâm nghiệp giúp theo dõi dịch bệnh, quản lý vận hành các công trình liên tỉnh, giám sát diễn biến rừng và phát triển lâm nghiệp theo vùng sinh thái.

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, trong thời gian tới, một trong những nhiệm vụ trọng tâm là tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách về liên kết vùng; rà soát, nâng cao chất lượng các chiến lược và quy hoạch nhằm tạo động lực và không gian phát triển mới.

Bộ cũng sẽ tăng cường vai trò điều phối trong kết nối các địa phương triển khai các chương trình, dự án liên vùng; đồng thời xây dựng cơ chế giám sát, đánh giá việc thực hiện các nội dung liên kết gắn với trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị.

Cùng với hoàn thiện thể chế, hạ tầng liên vùng sẽ tiếp tục được đầu tư đồng bộ. Trọng tâm là phát triển hệ thống logistics nông nghiệp, trung tâm đầu mối nông sản, cảng cá, khu neo đậu tránh trú bão, hệ thống quan trắc tài nguyên, môi trường và khí tượng thủy văn; nâng cao năng lực phòng chống thiên tai và bảo đảm cấp nước sinh hoạt cho người dân, nhất là tại vùng sâu, vùng xa và vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Trong lĩnh vực chuyển đổi số, bộ sẽ tiếp tục rà soát, cập nhật và đồng bộ các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành; duy trì các đoàn công tác hỗ trợ địa phương, đặc biệt là những tỉnh còn khó khăn trong cập nhật dữ liệu. Đồng thời, thúc đẩy chia sẻ dữ liệu về biến đổi khí hậu giữa các địa phương trong vùng, giữa các vùng và với các quốc gia có chung đường biên giới, tiến tới hình thành các trung tâm cơ sở dữ liệu biến đổi khí hậu cấp vùng.

Bên cạnh đó, Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ thúc đẩy phát triển chuỗi giá trị nông sản quy mô vùng thông qua việc hỗ trợ doanh nghiệp đầu chuỗi liên kết với hợp tác xã và nông dân; xây dựng thương hiệu nông sản theo vùng; mở rộng thị trường trong nước và xuất khẩu trên cơ sở chuỗi giá trị liên kết. Đồng thời, khuyến khích các doanh nghiệp lớn đóng vai trò hạt nhân dẫn dắt các chuỗi liên kết vùng, hình thành chuỗi giá trị nông, lâm, thủy sản có sức cạnh tranh cao, góp phần nâng cao hiệu quả liên kết và phát triển bền vững giữa các địa phương./.


Tin liên quan

Dữ liệu đất đai: “Hạ tầng mềm” cho tăng trưởng mới

Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã xác định dữ liệu là tư liệu sản xuất mới. Nếu đường cao tốc, cảng biển hay sân bay được xem là “hạ tầng cứng” thúc đẩy lưu thông hàng hóa, thì dữ liệu ngày càng trở thành “hạ tầng mềm” của nền kinh tế số.

"Kiềng 3 chân" cho chuyển đổi xanh

Chuyển đổi xanh ở Việt Nam đang được chú trọng với sự tham gia của Nhà nước - doanh nghiệp - người dân để tạo thế "kiềng 3 chân" vững chắc. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã xác định rõ yêu cầu xây dựng mô hình tăng trưởng mới dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh; thúc đẩy kinh tế số, kinh tế xanh... Đây là định hướng chiến lược, thể hiện tầm nhìn phát triển dài hạn của đất nước trong bối cảnh mới.

Chuyển đổi số ngân hàng: Kiến tạo động lực tăng trưởng mới

Từ việc mở tài khoản, xác thực danh tính đến thực hiện các thủ tục hành chính trong lĩnh vực ngân hàng, nhiều giao dịch mà trước đây phải thực hiện trực tiếp nay đã được số hóa chỉ với vài thao tác trên điện thoại thông minh. Những thay đổi ấy không chỉ phản ánh bước chuyển mạnh mẽ của ngành ngân hàng trong thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, mà còn mở ra dư địa mới cho cải cách thủ tục hành chính, giảm chi phí xã hội và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Tin cùng chuyên mục

Lấy ngoại lực để làm mạnh nội lực

Trong giai đoạn phát triển mới với một tâm thế mới, Việt Nam kiên quyết không thu hút đầu tư bằng mọi giá mà chủ động lựa chọn, sàng lọc và đồng hành với các nhà đầu tư tốt để cùng tạo ra giá trị mới.

Xuất khẩu rau quả bền vững từ chuỗi giá trị

Ngành rau quả Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu nâng cao chất lượng tăng trưởng, chuyển đổi sang mô hình sản xuất hiện đại, bền vững và gia tăng giá trị xuất khẩu.

Người dân xứ Nghệ háo hức với ngày hội biên cương

Chương trình giao lưu hữu nghị biên giới Quốc phòng Việt Nam - Lào đã bắt đầu diễn ra. Để chuẩn bị cho các hoạt động đón tiếp và giao lưu, người dân khu vực cửa khẩu Quốc tế Thanh Thuỷ, Nghệ An đã chuẩn bị từ nhiều ngày nay. Sự háo hức và tình cảm nồng ầm của bà con xứ Nghệ khiến không khí ngày hội trở nên rộn ràng hơn.

Cải cách hành chính lấy người dân và doanh nghiệp là trung tâm

Ngay sau khi triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, Trung tâm Phục vụ hành chính công tỉnh Lạng Sơn đã triển khai đồng bộ các nhiệm vụ về chuyển đổi số và xây dựng chính quyền số nhằm nâng cao sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp trong việc giải quyết các thủ tục hành chính.

Thái Nguyên khám sức khỏe cho toàn dân

Tỉnh Thái Nguyên đang huy động tối đa các cơ sở y tế công - tư triển khai khám sàng lọc sức khỏe miễn phí cho toàn dân. Với hơn 63% tiến độ hiện tại, tỉnh phấn đấu đạt 100% trước ngày 30/10 nhằm nâng cao sức khỏe cộng đồng.