![]() |
| Dây chuyền sản xuất thiết bị điện tử, thiết bị thắp sáng trong xe ô tô, xe máy tại Công ty TNHH Điện Việt Nam Stanley (vốn đầu tư của Nhật Bản) tại Hà Nội. Ảnh tư liệu: Danh Lam/TTXVN |
Trong các nhà xưởng sản xuất ván ép xuất khẩu ở Khu Công nghiệp Nam Quang, bài toán tăng trưởng của doanh nghiệp không bắt đầu từ những con số lớn trên báo cáo, mà từ những việc rất cụ thể: đường vận chuyển nguyên liệu có thuận lợi không, điện có ổn định không, mặt bằng có đáp ứng yêu cầu mở rộng sản xuất không, thủ tục đầu tư, đất đai, xây dựng, môi trường có được hướng dẫn kịp thời không. Với doanh nghiệp sản xuất, mỗi điểm nghẽn được tháo gỡ đều có thể chuyển hóa thành thêm đơn hàng, thêm việc làm và thêm nguồn thu cho địa phương.
* Từ nhà xưởng đến vùng nguyên liệu
Tuyên Quang đang xác định khơi thông hạ tầng, cải thiện môi trường đầu tư, đồng hành thực chất với doanh nghiệp là một trong những giải pháp quan trọng để tạo động lực phát triển trong giai đoạn mới. Sau một năm vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, không gian phát triển của nhiều xã, phường được mở rộng hơn; vùng nguyên liệu, quỹ đất, hệ thống giao thông, khu, cụm công nghiệp và dịch vụ hỗ trợ sản xuất có điều kiện tổ chức lại đồng bộ hơn. Tuy nhiên, dư địa phát triển chỉ có thể trở thành năng lực cạnh tranh khi doanh nghiệp được tiếp cận hạ tầng thuận lợi, thủ tục thông thoáng và các dịch vụ thiết yếu ổn định.
Doanh nghiệp sản xuất ván ép xuất khẩu tại Khu Công nghiệp Nam Quang, Công ty cổ phần Xây dựng và Thương mại Thái Hoàng đang khai thác lợi thế vùng nguyên liệu rừng trồng, lao động tại chỗ và vị trí kết nối giao thông của địa phương. Ông Trần Hải Anh, Tổng Giám đốc Công ty cho rằng, với doanh nghiệp sản xuất, hạ tầng giao thông, điện, nước, xử lý môi trường và thủ tục đầu tư tác động trực tiếp đến chi phí, tiến độ giao hàng và khả năng mở rộng đơn hàng. Một tuyến đường thuận lợi, một thủ tục được hướng dẫn rõ ràng, một khó khăn về mặt bằng, môi trường được tháo gỡ kịp thời có thể giúp doanh nghiệp yên tâm đầu tư thêm thiết bị, mở rộng sản xuất và giữ ổn định việc làm cho người lao động.
Không chỉ doanh nghiệp trong khu công nghiệp, nhiều hợp tác xã, cơ sở sản xuất ở vùng cao cũng đang chịu tác động trực tiếp từ hạ tầng. Tại xã Hồ Thầu, nơi có tiềm năng về nông nghiệp đặc sản, cây dược liệu, chè, du lịch sinh thái và kinh tế rừng, câu chuyện mở đường, kết nối sản xuất, liên kết vùng nguyên liệu đang được đặt ra cấp thiết hơn. Ông Phượng Chàn Nu, Phó Chủ tịch UBND xã Hồ Thầu cho rằng, sau khi mô hình chính quyền địa phương 2 cấp đi vào hoạt động, xã có điều kiện nhìn lại không gian phát triển rộng hơn, xác định rõ hơn lợi thế từng thôn, từng vùng sản xuất. Nhưng để người dân, hợp tác xã phát triển hàng hóa, hạ tầng giao thông, điện, nước, viễn thông và dịch vụ hỗ trợ sản xuất phải tiếp tục được quan tâm đầu tư.
Theo ông Phượng Chàn Nu, nhiều sản phẩm vùng cao có chất lượng tốt nhưng khó mở rộng thị trường do giao thông xa, chi phí vận chuyển cao, quy mô sản xuất còn nhỏ. Khi đường được mở rộng, việc đưa giống, vật tư, máy móc lên vùng sản xuất thuận lợi hơn; sản phẩm sau thu hoạch cũng dễ vận chuyển xuống trung tâm, đến nhà máy, hợp tác xã hoặc các điểm tiêu thụ. Hạ tầng vì vậy không chỉ phục vụ đi lại, mà còn mở cơ hội để người dân chuyển từ sản xuất nhỏ lẻ sang liên kết sản xuất, nâng cao giá trị nông sản địa phương.
Ông Đặng Ngọc Phố, Chủ nhiệm Hợp tác xã Sơn Trà (xã Hồng Thái) cho rằng, để sản phẩm vùng cao đi xa hơn, ngoài chất lượng sẵn có, cần có thêm hạ tầng thuận lợi và sự hỗ trợ trong liên kết tiêu thụ. Hợp tác xã cần đường giao thông thuận lợi để thu mua nguyên liệu, đưa sản phẩm ra thị trường; cần điện ổn định để sơ chế, chế biến; cần thủ tục rõ ràng để mở rộng sản xuất, xây dựng thương hiệu, tham gia các chương trình xúc tiến thương mại. Khi hạ tầng được đầu tư đồng bộ, hợp tác xã có thêm điều kiện liên kết với hộ dân, doanh nghiệp chế biến, đơn vị phân phối, từng bước nâng cao giá trị sản phẩm địa phương.
Từ doanh nghiệp sản xuất ván ép xuất khẩu ở Nam Quang đến hợp tác xã vùng cao như Sơn Trà, điểm gặp nhau là nhu cầu về một môi trường sản xuất, kinh doanh ổn định, minh bạch và có khả năng dự báo. Doanh nghiệp cần giảm chi phí vận chuyển, ổn định nguyên liệu, rút ngắn thủ tục; hợp tác xã cần hạ tầng để gom hàng, chế biến, đóng gói, tiêu thụ sản phẩm; chính quyền cơ sở cần thêm nguồn lực để hoàn thiện đường giao thông, mặt bằng sản xuất, vùng nguyên liệu tập trung. Khi các nhu cầu này được kết nối bằng hạ tầng và chính sách phù hợp, sản xuất địa phương sẽ có thêm dư địa phát triển.
* Gỡ điểm nghẽn để sản xuất tăng tốc
Theo ông Nguyễn Mạnh Tuấn, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Tuyên Quang, tỉnh xác định tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp phải bắt đầu từ những việc cụ thể, nhất là hạ tầng, mặt bằng, thủ tục đầu tư, đất đai, xây dựng, môi trường và khả năng tiếp cận các dịch vụ thiết yếu trong khu, cụm công nghiệp. Đầu tư công vì vậy không chỉ nhằm hoàn thành kế hoạch vốn, mà phải tạo được hạ tầng đủ tốt để dẫn dắt đầu tư xã hội, khuyến khích doanh nghiệp mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.
Từ yêu cầu này, Tuyên Quang đang tập trung rà soát các công trình, dự án có tác động trực tiếp đến phát triển sản xuất, kinh doanh; ưu tiên những công trình hạ tầng giao thông, điện, nước, khu tái định cư, hạ tầng khu, cụm công nghiệp, hạ tầng đô thị và dịch vụ logistics. Đối với những dự án còn vướng mắc về mặt bằng, vật liệu, thủ tục, tỉnh yêu cầu các cơ quan chức năng, chủ đầu tư, địa phương phân định rõ trách nhiệm, rõ thời hạn xử lý, không để nguồn lực đầu tư bị chậm trễ vì sự phối hợp thiếu nhịp nhàng giữa các cấp, các ngành.
Không chỉ quan tâm đến đường, cầu, điện, nước, Tuyên Quang cũng chú trọng cải thiện thủ tục hành chính, nâng cao chất lượng phục vụ người dân, hợp tác xã và doanh nghiệp. Khi chính quyền cấp xã sau sắp xếp được giao thêm thẩm quyền, gần dân, gần doanh nghiệp hơn, việc tiếp nhận, hướng dẫn, giải quyết thủ tục phải nhanh hơn, sát thực tế hơn. Các trung tâm phục vụ hành chính công, bộ phận một cửa cấp xã, phường nếu vận hành hiệu quả sẽ giảm đáng kể thời gian đi lại, chờ đợi của người dân, hợp tác xã và doanh nghiệp.
Đối với các khu, cụm công nghiệp, yêu cầu đặt ra không chỉ là có mặt bằng để thu hút dự án, mà phải có hạ tầng đủ điều kiện cho sản xuất lâu dài. Doanh nghiệp cần đường nội bộ, điện, nước, viễn thông, xử lý nước thải, phòng cháy, chữa cháy, dịch vụ logistics và nguồn lao động phù hợp. Nếu các yếu tố này được chuẩn bị tốt, tỉnh sẽ có điều kiện thu hút các dự án chế biến sâu nông, lâm sản, sản xuất giấy, ván ép, vật liệu xây dựng, cơ khí, công nghiệp hỗ trợ và những ngành có giá trị gia tăng cao hơn.
Tuyên Quang có lợi thế lớn về kinh tế rừng, nông nghiệp hàng hóa, khoáng sản, du lịch và vị trí kết nối giữa vùng trung du với cực Bắc của Tổ quốc. Nhưng để những lợi thế này trở thành sản phẩm công nghiệp, dịch vụ và nguồn thu ngân sách, tỉnh cần làm tốt hơn việc kết nối vùng nguyên liệu với nhà máy, hợp tác xã, doanh nghiệp và thị trường tiêu thụ. Trong quá trình đó, người trồng rừng, hộ sản xuất, hợp tác xã, doanh nghiệp chế biến, đơn vị vận tải, ngân hàng và cơ quan quản lý nhà nước đều là những mắt xích quan trọng. Khi hạ tầng được khơi thông, thủ tục được rút ngắn, doanh nghiệp có môi trường ổn định để đầu tư, chuỗi sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm của địa phương sẽ vận hành hiệu quả hơn.
Khơi thông hạ tầng, tiếp sức doanh nghiệp sản xuất vì vậy không chỉ là yêu cầu trước mắt để thúc đẩy tăng trưởng hai con số trong năm 2026, mà còn là cách Tuyên Quang tạo nền tảng cho giai đoạn phát triển dài hơn. Khi dòng vốn đầu tư công được chuyển hóa thành những công trình thiết thực; khi từng kiến nghị của doanh nghiệp được xử lý đến nơi đến chốn; khi các khu, cụm công nghiệp có hạ tầng đồng bộ hơn; khi vùng nguyên liệu, hợp tác xã và nhà máy được kết nối chặt chẽ hơn, dòng vốn sản xuất sẽ chảy nhanh hơn.
Từ những nhà xưởng ở Nam Quang, vùng nguyên liệu Hồ Thầu đến các hợp tác xã như Sơn Trà, một không gian phát triển mới của Tuyên Quang đang dần được hình thành bằng chính sự chuyển động của hạ tầng, doanh nghiệp và chính quyền phục vụ./.

