![]() |
| Doanh nghiệp luôn cần nguồn vốn để phát triển sản xuất. Ảnh minh họa: Minh Thu- TTXVN |
Thực tế này đặt ra yêu cầu đổi mới cách đánh giá tín dụng, khai thác tốt hơn dữ liệu về doanh thu, dòng tiền, hóa đơn, thuế và lịch sử giao dịch để mở rộng khả năng tiếp cận vốn.
*Gỡ nút thắt dữ liệu
Theo bà Nguyễn Thị Lan Hương, Ủy viên Đoàn Chủ tịch Trung ương Hội Doanh nhân trẻ Việt Nam, doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện chiếm khoảng 98% tổng số doanh nghiệp. Song số liệu mới nhất của Ngân hàng Nhà nước cho thấy dư nợ tín dụng đối với nhóm doanh nghiệp này mới đạt trên 4 triệu tỷ đồng, quy mô còn khá khiêm tốn so với tổng dư nợ hơn 10,7 triệu tỷ đồng đang cho vay cộng đồng doanh nghiệp.
Bà Hương cho biết doanh nghiệp không chỉ quan tâm có vay được vốn hay không mà còn cần vốn với chi phí phù hợp, đúng thời điểm và đúng kỳ hạn. Những vướng mắc lớn hiện nay là tài sản bảo đảm, hồ sơ, thời gian thẩm định và giải ngân. Bà đề nghị ngân hàng minh bạch tổng chi phí khoản vay, đơn giản hóa hồ sơ và đổi mới thẩm định theo hướng coi doanh thu, dòng tiền, hợp đồng, đơn hàng, khoản phải thu và lịch sử thanh toán là những căn cứ quan trọng bên cạnh tài sản bảo đảm.
Những yêu cầu này đang thúc đẩy các ngân hàng thay đổi cách tiếp cận. Ông Bạch Thành Long, Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) cập nhật tín dụng dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa 8 tháng năm 2026 tại ngân hàng này đã tăng 13,5%, cao hơn mức tăng tín dụng chung khoảng 7,8%. Ngân hàng đã triển khai các chương trình giảm lãi suất và đồng thời khuyến nghị doanh nghiệp hoàn thiện hệ thống kế toán, minh bạch dòng tiền, tập trung doanh thu và thanh toán qua ngân hàng để tạo dữ liệu phục vụ thẩm định.
Trong khi đó, tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank), Tổng Giám đốc Phạm Toàn Vượng cho biết Agribank đang chuyển mạnh sang đánh giá dựa trên dòng tiền, đầu ra và hiệu quả phương án kinh doanh, đồng thời chuẩn hóa quy trình, tăng giải ngân điện tử và khai thác dữ liệu. Doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện chiếm khoảng 60% dư nợ cho vay doanh nghiệp và 90% số doanh nghiệp vay vốn của ngân hàng.
Còn tại Ngân hàng TMCP Quân đội (MB), dữ liệu doanh thu, dòng tiền và phần mềm kế toán cũng đang được sử dụng để hỗ trợ quyết định cho vay. "Khoảng 85% doanh nghiệp tiếp cận vốn tại ngân hàng trong năm 2026 qua kênh số; hơn 4.000 doanh nghiệp đã tiếp cận mô hình cho vay dựa trên dữ liệu này, với tổng giải ngân trên 30.000 tỷ đồng", ông Lê Quốc Minh, Phó Tổng Giám đốc MB chia sẻ.
Ông Lại Tiến Quân, Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) nhấn mạnh việc hoàn thiện dữ liệu tập trung từ thuế, bảo hiểm xã hội, hải quan và nâng cao tính minh bạch tài chính của doanh nghiệp. Theo ngân hàng, khi dữ liệu được kết nối đầy đủ hơn, việc đánh giá sức khỏe doanh nghiệp và khả năng trả nợ sẽ có thêm cơ sở, qua đó giảm sự phụ thuộc vào tài sản bảo đảm.
Như vậy, điểm thay đổi không chỉ nằm ở việc ngân hàng tung thêm sản phẩm hay giảm lãi suất, mà đang dần chuyển sang đánh giá doanh nghiệp bằng khả năng tạo dòng tiền và dữ liệu thực tế. Đây cũng là cơ sở để giải quyết một trong những nút thắt lớn nhất của tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa, đó là doanh nghiệp có hoạt động, có doanh thu nhưng chưa đủ dữ liệu để ngân hàng nhìn thấy và định lượng được năng lực tài chính.
![]() |
| Doanh nghiệp cần nguồn vốn dài hạn để đầu tư máy móc, công nghệ. Ảnh minh họa: Bùi Giang - TTXVN |
* Đổi cách tiếp cận vốn
Dữ liệu tốt hơn có thể giúp ngân hàng nhìn rõ hơn sức khỏe doanh nghiệp, nhưng để dòng vốn thực sự đến đúng lúc, đúng nhu cầu, cả doanh nghiệp và ngân hàng đều phải thay đổi cách tiếp cận. Với doanh nghiệp, yêu cầu trước hết là nâng cao chất lượng quản trị, minh bạch tài chính và chủ động xây dựng lịch sử giao dịch đủ tin cậy để ngân hàng có thể đánh giá dựa trên dòng tiền.
Theo bà Nguyễn Thị Lan Hương đề xuất phát triển nguồn vốn trung, dài hạn cho máy móc, công nghệ, logistics, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và nông nghiệp công nghệ cao; đồng thời thúc đẩy tín dụng theo chuỗi giá trị.
Thêm nữa, bà Hương cho rằng cơ chế bảo lãnh tín dụng cần thực sự trở thành công cụ chia sẻ rủi ro giữa doanh nghiệp, quỹ bảo lãnh và ngân hàng, với tiêu chí, tỷ lệ bảo lãnh, trách nhiệm và thời gian xử lý rõ ràng, thay vì tạo thêm một tầng thủ tục mới.
Ở góc độ quản lý, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn nhấn mạnh hỗ trợ doanh nghiệp không theo cơ chế "xin - cho" vốn. Nguồn vốn cần đến đúng thời điểm, đúng kỳ hạn, với lãi suất phù hợp thị trường; không hạ chuẩn tín dụng nhưng phải phù hợp hơn với thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp. Cho vay dựa trên dòng tiền, theo chuỗi giá trị và đơn giản hóa thủ tục cần tiếp tục được đẩy mạnh.
Ngân hàng Nhà nước sẽ yêu cầu các ngân hàng rà soát quy trình, sản phẩm, thời gian xử lý và khả năng tiếp cận thông tin để kịp thời tháo gỡ những điểm có thể xử lý ngay. Cơ quan này cũng sẽ nghiên cứu hoàn thiện cơ chế tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, triển khai các chương trình tín dụng ưu tiên và nghiên cứu cơ chế đánh giá dựa trên dòng tiền.
Đáng chú ý, Trung tâm Thông tin tín dụng quốc gia (CIC) được giao nghiên cứu, thí điểm phân tích dữ liệu dòng tiền phục vụ thông tin tín dụng, đánh giá khả năng kết nối, khai thác dữ liệu và đề xuất khuôn khổ pháp lý phù hợp. Ngân hàng Nhà nước cũng sẽ tăng cường theo dõi tại 15 chi nhánh khu vực về huy động vốn, tăng trưởng tín dụng, lãi suất và khả năng hấp thụ vốn của doanh nghiệp.
Khi dữ liệu được kết nối và minh bạch hơn, ngân hàng có thêm cơ sở đánh giá sức khỏe và khả năng trả nợ của doanh nghiệp; ngược lại, doanh nghiệp có cơ hội giảm dần sự phụ thuộc vào tài sản bảo đảm. Từ đó, "mở cửa từ dữ liệu" không chỉ là câu chuyện số hóa quy trình, mà có thể trở thành bước chuyển trong cách ngân hàng tiếp cận và cấp vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa


