Nghị quyết 27-NQ/TW: Cơ chế đặc thù cho không gian phát triển mới
Theo các chuyên gia, vấn đề cốt lõi của Cần Thơ hiện nay không chỉ là có thêm nguồn lực, mà phải hình thành một mô hình tăng trưởng tương xứng với không gian phát triển mới.
Cần Thơ hướng ra biển lớn: Chuyển từ “kinh tế sông” sang “kinh tế biển”

Việc hợp nhất mở ra cho Cần Thơ một không gian phát triển mới với cấu trúc kinh tế tích hợp gồm đô thị, dịch vụ, công nghiệp, nông nghiệp, kinh tế biển, cảng biển và logistics. Không gian lớn hơn không chỉ tạo thêm dư địa phát triển mà còn đặt ra yêu cầu thay đổi tư duy tổ chức phát triển, từ khai thác lợi thế từng địa bàn sang tổ chức các nguồn lực trong một không gian kinh tế thống nhất.

Theo các chuyên gia, vấn đề cốt lõi của Cần Thơ hiện nay không chỉ là có thêm nguồn lực, mà phải hình thành một mô hình tăng trưởng tương xứng với không gian phát triển mới. Trong đó, cơ chế đặc thù cần được nhìn nhận như công cụ để tái cấu trúc nguồn lực, hình thành động lực tăng trưởng mới và nâng cao năng lực điều phối vùng.

*Từ doanh nghiệp đầu tàu, dòng vốn đến hạ tầng

Theo ông Nguyễn Phương Lam, Giám đốc VCCI chi nhánh Đồng bằng sông Cửu Long, Cần Thơ cần một cơ chế mang tính bước ngoặt để hình thành các doanh nghiệp “đầu tàu”, trước hết thông qua chính sách ưu đãi đủ mạnh nhằm thu hút các tập đoàn kinh tế lớn vào những dự án trọng điểm.

Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Phương Lam, thu hút doanh nghiệp lớn phải gắn với tái cơ cấu và phát huy hiệu quả “vốn mồi” của Quỹ Đầu tư phát triển thành phố, qua đó tạo nguồn lực ban đầu để kích hoạt dự án, đầu tư hạ tầng khung và thu hút thêm nguồn vốn xã hội.

Ông Lam cũng kiến nghị Cần Thơ áp dụng cơ chế đặc thù về chỉ định thầu đối với các dự án cấp bách, chiến lược nhằm rút ngắn thủ tục, nhưng phải đi kèm Hội đồng thẩm định độc lập với tiêu chí công khai để kiểm soát chất lượng và rủi ro pháp lý. Cùng với đó, cần mở rộng không gian tài khóa thông qua phát hành trái phiếu chính quyền đô thị và đa dạng hóa nguồn vốn vay quốc tế cho các công trình hạ tầng động lực.

Từ góc độ lan tỏa của đầu tư, Tiến sĩ Trần Hữu Hiệp, chuyên gia kinh tế Đồng bằng sông Cửu Long, Phó Chủ tịch Hiệp hội Du lịch Đồng bằng sông Cửu Long, cho rằng vấn đề không nằm ở việc Cần Thơ thu hút bao nhiêu tập đoàn hay bao nhiêu tỷ USD, mà là mỗi dự án tạo ra hệ sinh thái gì xung quanh.

Theo ông Trần Hữu Hiệp, một dự án chỉ thực sự trở thành động lực tăng trưởng khi kéo theo doanh nghiệp nội địa, vùng nguyên liệu, công nghiệp hỗ trợ, logistics, công nghệ và đào tạo nhân lực. Vì vậy, thước đo của dự án lớn không chỉ là quy mô vốn mà phải là giá trị tạo ra cho kinh tế địa phương và số doanh nghiệp được nâng cấp sau dự án.

Cùng cách tiếp cận này, Tiến sĩ Huỳnh Thanh Điền, chuyên gia kinh tế phát triển, Trường Đại học Nguyễn Tất Thành, cho rằng thu hút FDI và các tập đoàn lớn chỉ có ý nghĩa khi tạo được hiệu ứng lan tỏa cho doanh nghiệp trong nước.

Theo Tiến sĩ Huỳnh Thanh Điền, chính sách ưu đãi cần được thiết kế theo nhiều tầng: lựa chọn đúng doanh nghiệp đầu tàu; gắn ưu đãi với giá trị tạo ra tại địa phương; khuyến khích mua sắm trong nước, nghiên cứu và phát triển, đào tạo nhân lực; đồng thời nâng cao năng lực hấp thụ của doanh nghiệp địa phương.

Như vậy, bài toán thu hút đầu tư của Cần Thơ cần chuyển từ “có thêm dự án” sang “có thêm năng lực sản xuất”, từ quy mô vốn đăng ký sang chất lượng liên kết và khả năng hình thành hệ sinh thái kinh tế.

Để hệ sinh thái đó vận hành, bài toán dòng vốn cũng cần được thay đổi. Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phan Đình Khôi, Trưởng Khoa Tài chính - Ngân hàng, Trường Kinh tế, Đại học Cần Thơ, cho rằng một trong những điểm nghẽn lớn của Đồng bằng sông Cửu Long là sự “lệch pha” giữa tín dụng truyền thống, vốn phụ thuộc nhiều vào tài sản thế chấp, với chu kỳ sản xuất đặc thù của nông nghiệp và thủy sản.

Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phan Đình Khôi, Cần Thơ cần hướng tới hình thành một Trung tâm tài chính phục vụ sản xuất nông nghiệp, kinh tế xanh và chuỗi giá trị vùng, trong đó sản phẩm tài chính được thiết kế dựa trên hợp đồng, dòng tiền và khả năng tiêu thụ sản phẩm. Khi đó, Cần Thơ có thể trở thành đầu mối điều phối dòng vốn cho các chuỗi sản xuất, chế biến và xuất khẩu của toàn vùng.

Ở góc độ vốn công, Tiến sĩ Trần Hữu Hiệp nhấn mạnh hiệu quả của “vốn mồi” không nằm ở quy mô ngân sách ban đầu mà ở khả năng giải phóng mặt bằng, đầu tư hạ tầng khung, tháo gỡ điểm nghẽn để kéo theo nhiều đồng vốn tư nhân và hình thành thị trường mới. Các quỹ đầu tư phát triển vì vậy cần được vận hành như “vốn xúc tác”, thay vì hoạt động gần với mô hình ngân hàng thương mại.

Cùng với nguồn vốn, các chuyên gia cho rằng hạ tầng phải được xem là bộ khung để kết nối không gian kinh tế mới. Theo đó, hạ tầng không chỉ phục vụ Cần Thơ mà phải kết nối vùng nguyên liệu với nhà máy chế biến, khu công nghiệp với cảng biển, sản xuất với thị trường và Đồng bằng sông Cửu Long với quốc tế.

Tiến sĩ Trần Hữu Hiệp lưu ý, thủ tục “nhanh” nếu thiếu kiểm soát có thể trở thành “đắt”; rút ngắn thủ tục không đồng nghĩa với hạ thấp tiêu chuẩn. Trong khi đó, Tiến sĩ Huỳnh Thanh Điền đề xuất đánh giá nhà đầu tư, nhà thầu dựa trên kinh nghiệm, công nghệ, mức độ phù hợp với đặc thù địa chất - thủy văn Đồng bằng sông Cửu Long, chi phí toàn bộ vòng đời công trình và rủi ro tiến độ.

Theo ông Huỳnh Thanh Điền, Cần Thơ có thể xây dựng “hồ sơ năng lực số” để đánh giá minh bạch năng lực nhà đầu tư, nhà thầu; nguyên tắc là thủ tục càng nhanh thì trách nhiệm giải trình càng phải cao.

Việc mở rộng khả năng huy động vốn qua trái phiếu địa phương, ODA, tài chính xanh hay hợp tác công - tư cũng phải gắn với kỷ luật tài khóa. Các chuyên gia cho rằng vấn đề không phải Cần Thơ có thể vay bao nhiêu, mà là dòng tiền đó tạo ra năng lực sản xuất, nguồn thu và khả năng trả nợ như thế nào, đồng thời kiểm soát rủi ro tỷ giá, lãi suất và hiệu quả của từng dự án.

*Từ “trung tâm địa lý” đến “bộ não điều phối”

Từ những yêu cầu về doanh nghiệp, vốn và hạ tầng, các chuyên gia cho rằng Cần Thơ cần hướng tới một thay đổi căn bản hơn: vượt qua tư duy phát triển trong ranh giới hành chính để tổ chức và điều phối các nguồn lực của toàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Theo ông Nguyễn Phương Lam, muốn thực hiện được vai trò này, Cần Thơ phải có những doanh nghiệp “đầu tàu” đủ mạnh và một cơ chế đủ linh hoạt để các dự án trọng điểm được triển khai nhanh, minh bạch, đồng thời có khả năng huy động nguồn lực xã hội và nguồn vốn quốc tế.

Tuy nhiên, theo Tiến sĩ Trần Hữu Hiệp, “sếu đầu đàn” không nên chỉ được đo bằng quy mô vốn. Giá trị lớn hơn của một doanh nghiệp hay dự án là khả năng tạo ra hệ sinh thái đủ lớn để nhiều doanh nghiệp và địa phương cùng hưởng lợi. Nông sản có thể được sản xuất ở địa phương này, nhà máy chế biến ở địa phương khác, nhưng nếu dòng vốn, logistics, công nghệ, thị trường và xuất khẩu được tổ chức kết nối thì giá trị gia tăng có thể được nâng lên trong toàn chuỗi.

Tiến sĩ Huỳnh Thanh Điền cũng cho rằng hiệu quả của FDI và các tập đoàn lớn phải được đánh giá bằng mức độ lan tỏa. Cần Thơ không chỉ thu hút nhà đầu tư mà phải tạo điều kiện để công nghệ, quản trị, thị trường, nhân lực và năng lực sản xuất được truyền dẫn sang khu vực doanh nghiệp trong nước.

Trong cấu trúc đó, đề xuất của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phan Đình Khôi về Trung tâm tài chính phục vụ nông nghiệp, kinh tế xanh và chuỗi giá trị vùng có thể trở thành một mắt xích quan trọng. Cần Thơ không chỉ là nơi sản xuất hoặc tiêu thụ vốn, mà có thể trở thành đầu mối điều phối dòng vốn theo chuỗi giá trị, gắn tài chính với sản xuất, chế biến, logistics và thị trường.

Từ đó, vai trò trung tâm của Cần Thơ không còn được xác lập chủ yếu bằng vị trí địa lý hay quy mô đô thị, mà bằng năng lực tổ chức các dòng vốn, hàng hóa, công nghệ, tri thức và thị trường trong một không gian kinh tế rộng lớn hơn.

Đây cũng là cách để Cần Thơ chuyển từ một “trung tâm địa lý” thành “bộ não điều phối” của không gian kinh tế Đồng bằng sông Cửu Long.

Theo logic đó, mô hình tăng trưởng mới của Cần Thơ cần được tổ chức theo một chuỗi liên kết rõ ràng: không gian mới tạo dư địa; doanh nghiệp đầu tàu tạo lực kéo; hệ sinh thái doanh nghiệp tạo sức lan tỏa; tài chính và hạ tầng tạo nền tảng; cơ chế đặc thù tạo điều kiện; năng lực điều phối vùng tạo quy mô phát triển.

Hợp nhất tạo cho Cần Thơ dư địa lớn hơn, nhưng không gian lớn tự thân không tạo ra tăng trưởng. Tăng trưởng chỉ xuất hiện khi phương thức tổ chức phát triển thay đổi tương xứng.

Vì vậy, cơ chế đặc thù không nên được hiểu đơn thuần là “thêm quyền, thêm tiền”, mà phải là thiết kế thể chế để tổ chức lại các nguồn lực, tạo ra những động lực tăng trưởng mới và nâng cao năng lực thực hiện vai trò trung tâm vùng.

Khi biến được không gian mới thành năng lực mới, biến dự án thành hệ sinh thái, biến vốn mồi thành vốn xúc tác và biến vai trò trung tâm thành năng lực điều phối vùng, Cần Thơ sẽ không chỉ tìm kiếm động lực tăng trưởng cho riêng mình mà có thể trở thành đầu mối tổ chức các dòng nguồn lực của toàn Đồng bằng sông Cửu Long.

Đó cũng là giá trị cốt lõi mà cơ chế đặc thù cần hướng tới, không phải tạo thêm đặc quyền cho một địa phương, mà tạo thêm năng lực để Cần Thơ thực hiện tốt hơn vai trò cực tăng trưởng, đô thị hạt nhân và đầu mối điều phối phát triển của toàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long trong kỷ nguyên mới./.

Tin liên quan

Cần Thơ đưa chuyển đổi số đến từng ngõ, từng nhà

Ngày 27/9, tại Nhà Văn hóa ấp Sáu Ngàn, xã Tân Hòa, thành phố Cần Thơ diễn ra Ngày hội Chuyển đổi số, nhằm nâng cao kỹ năng số cho người dân và thúc đẩy ứng dụng công nghệ trong đời sống, sản xuất, kinh doanh. Thông qua các ki-ốt chuyển đổi số và mô hình “Tổ đi từng ngõ, gõ từng nhà, rà từng người”, xã Tân Hòa từng bước hoàn thiện mô hình ấp thông minh.  

Tin cùng chuyên mục

Thông tin về Lễ hội Đồ uống Hà Nội năm 2026

Lễ hội Đồ uống Hà Nội năm 2026 hướng tới tôn vinh các giá trị văn hóa trong thưởng thức đồ uống, tăng cường kết nối doanh nghiệp và phát triển sản phẩm du lịch gắn với xu hướng tiêu dùng xanh.

Từ gánh nặng già hóa đến tiềm năng kinh tế bạc

Tại Việt Nam, quá trình già hóa dân số đang diễn ra với tốc độ nhanh. Dự báo đến năm 2030, Việt Nam sẽ có xấp xỉ 18 triệu người cao tuổi, tăng gần 4 triệu người so với năm 2024. Thực trạng này mang đến cả thách thức lẫn cơ hội; tạo ra áp lực lớn về an sinh xã hội, nhưng cũng là động lực để tìm kiếm mô hình tăng trưởng mới, phát triển nhanh và bền vững. Kinh tế bạc đang có cơ hội mở rộng không gian phát triển, tạo nguồn lực quý báu cho sự phát triển chung của đất nước.

Ngày Chuyển đổi số Quốc gia 2026: Thúc đẩy mua sắm trực tuyến, thanh toán số

Ngày 9/10, tại Quảng trường 3-2 phường Bắc Giang, Sở Công Thương thành phố Bắc Ninh tổ chức sự kiện “Mua sắm trực tuyến và thanh toán không dùng tiền mặt”, hưởng ứng Ngày Chuyển đổi số Quốc gia 10/10. Sự kiện nhằm khuyến khích người dân sử dụng các phương thức thanh toán hiện đại; đồng thời, hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh mở rộng thị trường trên nền tảng số.