![]() |
| Người tiêu dùng quét mã truy xuất nguồn gốc sản phẩm chè, thể hiện việc ứng dụng chuyển đổi số trong quảng bá và tiêu thụ nông sản. Ảnh: Tạ Toàn - TTXVN |
Thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, ngành công thương đang tập trung tháo gỡ những điểm nghẽn về cơ chế, nguồn lực, nhân lực và năng lực công nghệ. Đây là nội dung được trao đổi tại tọa đàm “Ngành công thương thực hiện Nghị quyết 57: Tháo gỡ điểm nghẽn, thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số” do Tạp chí Công Thương tổ chức ngày 24/9 tại Hà Nội.
Ông Hoàng Ninh, Phó Cục trưởng Cục Khoa học, Công nghệ và Chuyển đổi số, (Bộ Công Thương) cho biết: Việc thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW tại Bộ Công Thương đang chuyển từ triển khai diện rộng sang đi vào chiều sâu, với trọng tâm là các nhiệm vụ cụ thể và sản phẩm đầu ra thực chất.
Từ đầu năm đến nay, Bộ Công Thương đã tiếp nhận 287 nhiệm vụ thực hiện Nghị quyết 57- NQ/TW; trong đó 187 nhiệm vụ đã hoàn thành, 10 nhiệm vụ đang thực hiện trong hạn và 90 nhiệm vụ thường xuyên. Bộ cũng đã ban hành hoặc trình ban hành 17 văn bản quy phạm pháp luật, đồng thời đơn giản hóa, cải cách hơn 55% thủ tục hành chính. Tuy nhiên, kết quả không nên chỉ được đo bằng số lượng hay tiến độ nhiệm vụ mà cần thể hiện ở công nghệ được tạo ra, dữ liệu hình thành và khả năng ứng dụng, chuyển giao vào thực tế.
Đáng lưu ý, 3 điểm nghẽn chính gồm thể chế chưa theo kịp tốc độ phát triển công nghệ; nguồn lực và nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu; và khoảng cách từ nghiên cứu đến ứng dụng còn lớn. Việc tháo gỡ đồng thời cả ba điểm nghẽn là điều kiện để khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tạo ra hiệu quả thực chất cho ngành công thương.
Theo ông Dương Đức Anh, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Điện tử - Tin học - Tự động hóa, sau khi Nghị quyết 57- NQ/TW được ban hành, doanh nghiệp đã tích cực hơn trong chuyển đổi số, tiếp nhận và ứng dụng công nghệ mới vào sản xuất với mức độ đổi mới có sự khác nhau. Các doanh nghiệp lớn có khả năng tiếp nhận những hệ thống công nghệ đồng bộ, trong khi doanh nghiệp vừa và nhỏ thường chuyển đổi theo từng công đoạn, tập trung vào số hóa dữ liệu. Hơn nữa, làm chủ công nghệ không chỉ dừng ở việc tiếp nhận và vận hành mà quan trọng hơn là doanh nghiệp phải có khả năng tự bảo trì, phát triển và nâng cấp công nghệ sau chuyển giao. Đây là yếu tố quyết định để công nghệ thực sự phát huy hiệu quả trong sản xuất.
Từ góc độ các đơn vị nghiên cứu, ông Dương Đức Anh chỉ ra ba điểm nghẽn lớn trong quá trình đưa kết quả khoa học, công nghệ vào thực tiễn. Nhiều sản phẩm nghiên cứu mới dừng ở mô hình thử nghiệm trong phòng thí nghiệm, cần thêm thời gian và điều kiện để đánh giá độ bền, tính ổn định cũng như khả năng đáp ứng yêu cầu sản xuất thực tế.
Bên cạnh đó, vẫn tồn tại khoảng cách giữa công nghệ do các đơn vị nghiên cứu phát triển và nhu cầu thực tế của doanh nghiệp khiến việc thử nghiệm, tiếp nhận và ứng dụng công nghệ chưa thuận lợi. Nguồn lực tài chính cũng là trở ngại đáng kể khi doanh nghiệp còn khó khăn về vốn đối ứng để thử nghiệm, hoàn thiện công nghệ, trong khi chính sách hỗ trợ chưa đủ để chia sẻ rủi ro khi đưa các kết quả nghiên cứu vào sản xuất.
Theo bà Nguyễn Thị Mai, Phó Trưởng Ban Kỹ thuật Tập đoàn Hóa chất Việt Nam, thực hiện Nghị quyết 57- NQ/TW, Tập đoàn vừa nâng cấp các sản phẩm truyền thống, vừa phát triển những nhóm sản phẩm công nghệ mới, gắn với các định hướng quốc gia về bán dẫn và công nghệ chiến lược. Trọng tâm là đổi mới quy trình sản xuất, giảm tiêu hao, phát thải, nâng cao giá trị sản phẩm và từng bước làm chủ công nghệ mới.
Tập đoàn định hướng phát triển các nhóm sản phẩm như hóa chất tinh khiết phục vụ điện tử, bán dẫn; pin và hệ thống lưu trữ năng lượng; cao su kỹ thuật; sản phẩm đất hiếm và hóa dược. Đồng thời, Tập đoàn hoàn thiện cơ chế, tăng nguồn lực cho khoa học, công nghệ, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho nghiên cứu, tìm kiếm công nghệ mới và xây dựng chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao.
Tuy nhiên, điểm nghẽn lớn hiện nay là nhiều dây chuyền, thiết bị đã đầu tư từ lâu, hiệu suất thấp, phát thải cao và khó đáp ứng yêu cầu đổi mới công nghệ. Cùng với đó, nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực hóa chất mới còn khan hiếm. Do vậy, thời gian tới cần có chính sách thu hút các chuyên gia đầu ngành, đóng vai trò “nhạc trưởng” dẫn dắt phát triển những nhóm sản phẩm và công nghệ mới.
Ông Nguyễn Quang Tạo, Phó Tổng giám đốc Công ty cổ phần Đầu tư Xây dựng và Thương mại Ngãi Cầu cho hay: Các dự án lớn của ngành điện, đặc biệt là các dự án đường dây 500 kV, đang mở ra cơ hội để doanh nghiệp cơ khí trong nước tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng. Qua thực tế triển khai đường dây 500 kV mạch 3 và Lào Cai - Vĩnh Yên, doanh nghiệp cho thấy nếu chuẩn bị tốt về công nghệ, quản trị và tổ chức sản xuất, doanh nghiệp cơ khí Việt Nam có thể đáp ứng các yêu cầu khắt khe về tiến độ, chất lượng và kỹ thuật.
Cùng đó, công ty đã chủ động đầu tư công nghệ, liên tục nâng cấp hệ thống máy móc CNC và kết nối các nhà máy qua IoT để thu thập dữ liệu, quản lý quy trình sản xuất. Tuy nhiên, công nghệ chỉ phát huy hiệu quả khi đi cùng con người và quản trị sản xuất, trong đó việc tuân thủ quy trình, nâng cao năng suất và cập nhật phương thức quản trị là yếu tố quan trọng.
Thời gian tới cần ưu tiên phát triển nguồn nhân lực thông qua hợp tác với các trường đại học và đào tạo thường xuyên tại doanh nghiệp. Ngoài ra, doanh nghiệp chú trọng sản xuất bền vững, bảo vệ môi trường, thực hiện ESG và xây dựng văn hóa doanh nghiệp để thu hút, giữ chân người lao động.
Ông Nguyễn Quang Tạo cho rằng: Doanh nghiệp sẵn sàng đầu tư công nghệ khi nhìn thấy cơ hội nhưngcần thêm các cơ chế tài chính, tín dụng thuận lợi để nâng cấp năng lực sản xuất. Đồng thời, quy trình quản trị phải liên tục được cập nhật nhằm bảo đảm chất lượng, tiến độ và khả năng đáp ứng các yêu cầu ngày càng cao của thị trường.
Theo ông Hoàng Ninh, thời gian tới cần tập trung vào 4 nhóm giải pháp để tháo gỡ các điểm nghẽn: hoàn thiện cơ chế, thể chế và cách tổ chức nhiệm vụ khoa học, công nghệ; tập trung nguồn lực cho những nhiệm vụ có tác động lớn; đào tạo nhân lực theo nhu cầu doanh nghiệp; và nâng cao năng lực hấp thụ công nghệ của doanh nghiệp.
Trong năm 2026, Bộ Công Thương dự kiến tập trung 3-5 bài toán lớn có giá trị đối với ngành, hướng tới tạo ra sản phẩm gắn với công nghệ chiến lược và nâng cấp công nghệ cho doanh nghiệp. Việc đào tạo nhân lực cũng cần gắn chặt với nhu cầu thực tế, trong đó doanh nghiệp có thể đặt hàng các trường đại học về chương trình và chất lượng đầu ra.
Đặc biệt, khả năng ứng dụng và nhân rộng phải được tính ngay từ khi xác định nhiệm vụ nghiên cứu, với sản phẩm đầu ra, đối tượng sử dụng, tiêu chí đánh giá và phương án nhân rộng rõ ràng. Doanh nghiệp cần tham gia từ khâu đặt bài toán, xác định nhu cầu, thử nghiệm, hoàn thiện đến thương mại hóa; trong khi viện nghiên cứu, trường đại học cung cấp giải pháp và nguồn nhân lực chất lượng cao. Mối liên kết Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp vì vậy cần hướng tới chuẩn hóa, hoàn thiện và nhân rộng các giải pháp, để kết quả nghiên cứu không dừng ở từng dự án, mô hình mà thực sự tạo ra tác động trong thực tiễn.
Ông Hoàng Ninh nhấn mạnh: Bộ Công Thương đã xây dựng các đề án phát triển ngành đến giai đoạn 2030-2045, trong đó đề ra giải pháp thúc đẩy các ngành công nghiệp nền tảng như hóa chất, chế biến, chế tạo, tạo thêm nguồn lực để doanh nghiệp phát triển. Cùng với đó, cơ chế, chính sách ngày càng mở, tạo điều kiện để các doanh nghiệp trong nước có sản phẩm chất lượng, đáp ứng yêu cầu tham gia các chương trình, dự án của Nhà nước và doanh nghiệp nhà nước.
Thời gian tới, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phải tạo ra những kết quả có thể đo đếm được, gắn chặt với yêu cầu phát triển của doanh nghiệp và ngành công thương. Bộ sẽ ưu tiên công nghệ, sản phẩm công nghệ chiến lược, nâng cấp công nghệ và thúc đẩy chuyển giao, ứng dụng kết quả nghiên cứu. Trong chuyển đổi số, trọng tâm không chỉ là đưa quy trình lên môi trường số mà phải kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu phục vụ quản trị sản xuất, kinh doanh. Hiệu quả cuối cùng cần được thể hiện qua những kết quả cụ thể như tăng năng suất lao động, giảm chi phí, tạo sản phẩm mới và nâng cao sức cạnh tranh./.

