Nghị quyết 70-NQ/TW: Sửa Luật Điện lực kỳ vọng tạo đột phá cho điện gió ngoài khơi
Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực số 61/2024/QH15 của Quốc hội do Bộ Công Thương chủ trì soạn thảo, hoàn thiện, trong đó có bổ sung các quy định về phát triển năng lượng tái tạo, năng lượng mới; các cơ chế giá điện, cơ chế mua bán điện… được kỳ vọng sẽ tạo đột phá cho điện gió ngoài khơi.
Công nhân ngành điện kiểm tra thiết bị đầu vào nguồn cung cấp điện phục vụ khách hàng ở Công ty TNHH Bảo Long, phường Kỳ Lừa, tỉnh Lạng Sơn. Ảnh: Vũ Sinh - TTXVN

Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực số 61/2024/QH15 của Quốc hội do Bộ Công Thương chủ trì soạn thảo, hoàn thiện, trong đó có bổ sung các quy định về phát triển năng lượng tái tạo, năng lượng mới; các cơ chế giá điện, cơ chế mua bán điện… được kỳ vọng sẽ tạo đột phá cho điện gió ngoài khơi, góp phần đảm bảo an ninh năng lượng cho tăng trưởng hai con số và thúc đẩy chuyển dịch năng lượng.

*Nguyên tắc cốt lõi cần được quy định rõ trong Luật

Theo Phó Tổng giám đốc Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) Phan Tử Giang, Petrovietnam đã nhiều lần góp ý dự thảo Luật, tập trung vào cơ chế khai thác hiệu quả nguồn điện hiện có, thu hút đầu tư và bảo đảm phát triển hệ thống điện. Đặc biệt, với điện gió ngoài khơi, dù lĩnh vực này đã được đề cập trong Luật Điện lực số 61/2024/QH15 và các nghị quyết của Bộ Chính trị nhưng một số cơ chế triển khai vẫn chưa đủ rõ ràng. Do đó, cần xây dựng cơ chế quản lý đồng bộ, minh bạch, có thể nghiên cứu mô hình quản lý tương tự lĩnh vực dầu khí.

Cũng theo ông Phan Tử Giang, những nguyên tắc cốt lõi cần được quy định rõ ngay trong Luật, đồng thời bảo đảm yêu cầu về an ninh biển đảo và quản lý tài nguyên quốc gia. Trường hợp chưa thể đưa đầy đủ các quy định cần thiết về điện gió ngoài khơi vào Luật Điện lực, cần nghiên cứu một khuôn khổ pháp lý phù hợp, có thể xem xét xây dựng đạo luật riêng về khai thác tài nguyên ngoài khơi, tạo cơ sở triển khai dự án và huy động sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế.

Trong khi đó, Tổng Giám đốc Petrovietnam Lê Mạnh Cường cho rằng điện gió ngoài khơi là nguồn năng lượng hoàn toàn chủ động của quốc gia, không bị phụ thuộc vào nhiên liệu nhập khẩu. Do đặc thù điện gió ngoài khơi có tính chất tương đồng cao với ngành dầu khí (xây dựng, vận hành công trình biển), Petrovietnam đề xuất xây dựng khung pháp lý cho phép áp dụng các quy định tương đương của Luật Dầu khí đối với phần công trình trên biển.

Đồng thời, Petrovietnam kỳ vọng điện gió ngoài khơi trong tương lai sẽ không chỉ phát điện mà còn hướng tới sản xuất hydrogen và amoniac xanh phục vụ xuất khẩu.Góp ý cho dự thảo Luật Điện lực (sửa đổi), Tiến sĩ Hoàng Xuân Quốc, Phó Ban Tư vấn Phản biện, Hội Dầu khí Việt Nam chỉ rõ các hoạt động khảo sát điện gió ngoài khơi chủ yếu bao gồm đo gió, đo sóng và khảo sát địa chất đáy biển không phức tạp hơn so với hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí ngoài khơi. Tuy nhiên, trên thực tế, các quy định liên quan đến khảo sát hiện nay lại khiến quá trình triển khai gặp nhiều khó khăn, có thể làm gia tăng chi phí và rủi ro cho doanh nghiệp, từ đó ảnh hưởng đến tiến độ phát triển các dự án.

Vì vậy, giải pháp hợp lý là Nhà nước nên coi điện gió ngoài khơi là một dạng tài nguyên quốc gia. Trên cơ sở đó, một cơ quan của Nhà nước có thể thực hiện các khảo sát ban đầu, đánh giá sơ bộ tiềm năng nguồn gió, sau đó phân chia khu vực thành các lô để tổ chức đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư.

Cùng quan điểm này, Tiến sĩ Dư Văn Toán -Viện Khoa học Khí tượng Thủy Văn, Môi trường và Biển - Bộ Nông nghiệp và Môi trường chỉ rõ, về cơ sở pháp lý, Luật Điện lực số 61/2024/QH15 đã có nội dung về năng lượng tái tạo và năng lượng mới nhưng vẫn chỉ là cơ sở ban đầu, sơ bộ về điện gió ngoài khơi, thậm chí một số nội dung liên quan đến điện gió ngoài khơi vẫn chưa rõ ràng.

Minh chứng rõ nhất là Giấy phép Điện lực do Bộ Công Thương cấp; Giấy phép khảo sát, Giấy phép Môi trường và Đánh giá tác động môi trường thì do Bộ Nông nghiệp và Môi trường cấp.  Vì vậy, việc cấp Giấy phép khảo sát điện gió ngoài khơi vẫn tương đối chậm do số đơn xin cấp phép hiện tương đối nhiều.

Đặc biệt, giá mua điện gió ngoài khơi cũng là vấn đề đáng quan tâm. Tính toán của Viện Khoa học Khí tượng Thủy Văn, Môi trường và Biển cho thấy với khung giá điện 3 miền dao động từ 12-15 cent USD/kWh điện gió ngoài khơi, nếu ở mức giá cao, các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào Việt Nam sẽ có thể thu được lợi nhuận. Tuy nhiên, đến thời điểm này, các hợp đồng mua bán điện áp dụng theo cơ chế giá điện FIT1, FIT2 (cơ chế hỗ trợ năng lượng tái tạo áp dụng cho các dự án trước năm 2021) không còn duy trì… nên cần phải tính toán lại để đảm bảo hài hoà lợi ích giữa các bên.Ngoài ra, chính sách khuyến khích đầu tư điện gió ngoài khơi cũng cần tính đến chính sách hỗ trợ về phí mặt biển, đáy biển. Theo đó, có thể thu phí các dự án gần bờ nhưng chưa thu phí dự án xa bờ trong giai đoạn đầu để các công ty Việt Nam có thể thực hiện trọn gói dịch vụ từ: Khảo sát đến thi công, lắp đặt, vận hành sửa chữa, dịch vụ cầu cảng…

Từ năm 2030 trở đi, khi các doanh nghiệp nội địa đã vững vàng, nhà nước có thể thu phí mặt biển, đáy biển.Thực tế là các công ty thành viên của Petrovietnam hiện đang thực hiện nhiều hợp đồng dịch vụ cho các hãng điện gió ngoài khơi của nước ngoài. Nếu áp dụng các chính sách hỗ trợ như vậy, Việt Nam sẽ có một số công ty có đủ hợp phần dịch vụ hạ tầng điện gió ngoài khơi; tăng sức cạnh tranh cho doanh nghiệp nội địa khi mở cửa cho công ty nước ngoài, từ đó có giá điện gió ngoài khơi hợp lý hơn, Tiến sĩ Dư Văn Toán chia sẻ.

*Hoàn thiện hành lang pháp lý cho điện gió ngoài khơi

Theo Tờ trình về dự án Luật được Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Việt Sơn trình bày tại Phiên họp thứ 6, ngày 21/9/2026 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, dự thảo Luật Điện lực lần này có các nội dung sửa đổi bổ sung trọng tâm gồm: Thứ nhất là về đầu tư xây dựng dự án điện lực. Thứ hai là về phát triển điện năng lượng tái tạo, năng lượng mới, trong đó có sửa đổi bổ sung quy định về phát triển năng lượng tái tạo, năng lượng mới bao gồm: Điện gió ngoài khơi, hệ thống lưu trữ điện để tăng cường giám sát việc khai thác sử dụng tài nguyên hiệu quả. Thứ ba là về cấp phép hoạt động điện lực. Thứ tư là về thị trường điện, mua bán điện và vận hành hệ thống điện. Thứ năm là về cơ chế giá điện và giá dịch vụ điện, trong đó nhấn mạnh việc khuyến khích đầu tư phù hợp với các dự án điện năng lượng tái tạo, năng lượng mới, hệ thống lưu trữ điện và các loại hình điện lực khác theo yêu cầu phát triển kinh tế xã hội trong từng thời kỳ.Về thủ tục hành chính và phân cấp phân quyền, dự thảo Luật đã bãi bỏ 3 thủ tục hành chính, phát sinh một thủ tục hành chính mới.

Cùng đó, sửa đổi bổ sung 19 thủ tục hành chính hiện hữu để thực hiện chủ trương đơn giản hóa thủ tục hành chính; tách các thủ tục hành chính phức tạp thành các thủ tục hành chính riêng biệt phù hợp với thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp; qua đó đạt được mục tiêu đơn giản hóa thủ tục công khai minh bạch và cắt giảm chi phí tuân thủ cho các doanh nghiệp tham gia hoạt động điện lực.Dự thảo Luật được xây dựng theo hướng phân định rõ trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương và địa phương trong việc xây dựng chính sách, thực hiện chức năng nhiệm vụ nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước.Theo Bộ Công Thương, Luật Điện lực số 61/2024/QH15 đã được Quốc hội khóa XV thông qua ngày 30/11/2024 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/2/2025. Luật đã bổ sung nhiều nội dung đổi mới quan trọng về quy hoạch phát triển điện lực, đầu tư xây dựng các dự án điện, phát triển năng lượng tái tạo, vận hành thị trường điện cạnh tranh, cơ chế giá điện và bảo đảm an ninh cung cấp điện.

Tuy nhiên, trong triển khai thực tiễn, cùng với những yêu cầu mới của phát triển kinh tế - xã hội, quá trình chuyển dịch năng lượng và yêu cầu tiếp tục hoàn thiện thể chế, việc hoàn thiện Luật Điện lực có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo điều kiện huy động hiệu quả các nguồn lực xã hội cho phát triển hạ tầng năng lượng, bảo đảm an ninh cung cấp điện, đáp ứng yêu cầu tăng trưởng kinh tế hai con số và quá trình chuyển dịch năng lượng của đất nước.Căn cứ nhiệm vụ Chính phủ giao tại Nghị quyết số 328/NQ-CP ngày 13/10/2025 về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 70-NQ/TW ngày 20/8/2025 của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, Bộ Công Thương tiếp tục hoàn thiện dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực để trình Quốc hội xem xét tại kỳ họp thứ 2 năm 2026.Đánh giá của Ngân hàng Thế giới (WB) cho thấy, Việt Nam có khoảng 600 GW tiềm năng kỹ thuật điện gió ngoài khơi - một trong những mức cao nhất khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Trong khi đó, nghiên cứu của Viện Khoa học Khí tượng Thủy Văn, Môi trường và Biển- Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho thấy, tiềm năng khai thác điện gió ngoài khơi thực tế khoảng 900 GW. Xét trong khu vực Đông Nam Á, Việt Nam được đánh giá có chất lượng gió tốt nhất. Trên bình diện toàn cầu, Việt Nam nằm trong nhóm 5-6 quốc gia có điều kiện gió thuận lợi nhất, nhóm 10 quốc gia có tiềm năng điện gió ngoài khơi lớn và nằm trong top 20 quốc gia có tiềm năng phát triển điện gió tổng thể./.

Tin liên quan

Triển khai Nghị quyết 70-NQ/TW - Bài 3: Xã hội hóa để hiện thực mục tiêu dự trữ xăng dầu

Việc hoàn thiện hành lang pháp lý và thực hiện cơ chế xã hội hoá sẽ giúp Việt Nam hiện thực mục tiêu nâng mức dự trữ xăng dầu quốc gia lên khoảng 90 ngày nhập ròng vào năm 2030 theo tinh thần Nghị quyết số 70-NQ/TW ngày 20/8/2025 của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Triển khai Nghị quyết 70-NQ/TW - Bài 4: Giải pháp từ nguồn năng lượng mới

Nghị quyết 70-NQ/TW về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đưa ra quan điểm chỉ đạo: "Phát triển đồng bộ, hợp lý và đa dạng hóa các loại hình năng lượng; ưu tiên khai thác, sử dụng triệt để và hiệu quả các nguồn năng lượng tái tạo, năng lượng mới, năng lượng sạch...".

Triển khai Nghị quyết 70-NQ/TW - Bài cuối: Lời giải từ tiết kiệm và giảm phát thải của doanh nghiệp

Trong bối cảnh những căng thẳng địa chính trị làm ảnh hưởng cung ứng toàn cầu, bài toán năng lượng đang trở thành thử thách đối với mọi nền kinh tế. Tròn một năm triển khai, Nghị quyết 70-NQ/TW về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, đã chứng minh vai trò "lá chắn" vững chắc, định hình chiến lược giữ vững tổng cung năng lượng cho Việt Nam. Thế nhưng, để hiện thực hóa mục tiêu đề ra của Nghị quyết và duy trì đà tăng trưởng của nền kinh tế, lời giải không chỉ nằm ở tầm vĩ mô, mà còn xuất phát từ chính việc tiết kiệm năng lượng và giảm phát thải của doanh nghiệp.

Tin cùng chuyên mục

Kế hoạch số 09-KH/TW: 5 nhiệm vụ trọng tâm thực hiện Chỉ thị số 07-CT/TW của Bộ Chính trị

Thay mặt Ban Bí thư, đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư đã ký ban hành Kế hoạch số 09-KH/TW thực hiện Chỉ thị số 07-CT/TW ngày 13/7/2026 của Bộ Chính trị về "Đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới".  

Nghị quyết 23: Cầu nối lan tỏa giá trị văn hóa Việt Nam tại Nhật Bản

Ngày 23/9 tại Tokyo, Đại sứ Việt Nam tại Nhật Bản Phạm Quang Hiệu đã gặp gỡ khoảng 30 nhà sáng tạo nội dung, nhân vật có ảnh hưởng trên mạng xã hội (KOL) người Việt Nam cùng đại diện các cơ quan báo chí Việt Nam thường trú tại Nhật Bản. Cuộc gặp được kỳ vọng mở ra những kết nối và chương trình hợp tác mới, góp phần xây dựng cộng đồng người Việt tại Nhật Bản ngày càng đoàn kết, vững mạnh.

Từ giải thưởng quốc tế đến bài toán nâng tầm xiếc TP.HCM

Vượt qua những áp lực về thể lực, thời gian tập luyện và sự cạnh tranh của nhiều nền xiếc mạnh, hai nghệ sĩ Thanh Hoa và Hiển Phước của Trung tâm Nghệ thuật TP.HCM vừa giành giải Bạc tại Liên hoan Nghệ thuật Xiếc Quốc tế Minsk lần thứ 4, tổ chức tại Belarus.

Nghị quyết 27-NQ/TW: Hà Nội khẳng định vai trò hạt nhân, cực tăng trưởng của Vùng Thủ đô

Hà Nội đang đứng trước yêu cầu chuyển từ tư duy phát triển trong ranh giới hành chính sang phát triển theo không gian vùng. Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 28/8/2026 của Bộ Chính trị về phát triển các vùng và tổ chức không gian phát triển quốc gia trong giai đoạn mới xác định vùng đô thị Hà Nội là một trong hai cực tăng trưởng lớn nhất của đất nước, đồng thời đặt ra yêu cầu tăng cường liên kết hạ tầng, kinh tế, khoa học - công nghệ và nguồn lực giữa Thủ đô với các địa phương.