Triển khai Nghị quyết 70-NQ/TW - Bài 4: Giải pháp từ nguồn năng lượng mới
Nghị quyết 70-NQ/TW về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đưa ra quan điểm chỉ đạo: "Phát triển đồng bộ, hợp lý và đa dạng hóa các loại hình năng lượng; ưu tiên khai thác, sử dụng triệt để và hiệu quả các nguồn năng lượng tái tạo, năng lượng mới, năng lượng sạch...".

Với nhu cầu năng lượng cao để đáp ứng mục tiêu tăng trưởng hai con số của nền kinh tế, việc phát triển các nguồn năng lượng mới (năng lượng xanh) như hydrogen xanh hay amoniac xanh chính là một trong các giải pháp cốt lõi để giảm mạnh phát thải khí nhà kính, góp phần chống biến đổi khí hậu.

Phát triển năng lượng mới: Giải pháp cốt lõi chống biến đổi khí hậu. Ảnh minh hoạ do AI tạo

Dự báo quốc tế cho thấy nhu cầu hydrogen toàn cầu có thể tăng gần gấp 5 lần vào năm 2050; trong đó giao thông vận tải sẽ chiếm khoảng 40% tổng nhu cầu hydrogen. Với kịch bản phát thải ròng bằng "0", hơn 30% nhiên liệu sử dụng cho xe tải hạng nặng và hơn 60% nhiên liệu của ngành hàng hải sẽ đến từ hydrogen hoặc các nhiên liệu dẫn xuất như amoniac xanh và methanol xanh.

Theo Quyết định số 165/QĐ-TTg ngày 7/2/2024 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển năng lượng hydrogen của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, Việt Nam phấn đấu công suất sản xuất hydrogen từ quá trình sử dụng năng lượng tái tạo và các quá trình khác có thu giữ carbon đạt khoảng 100- 500 nghìn tấn/năm vào năm 2030 và tăng lên 10- 20 triệu tấn vào năm 2050. Đây là nguồn năng lượng xanh đóng góp quan trọng vào mục tiêu phát thải ròng bằng "0" của đất nước.

Kể từ khi Chiến lược phát triển năng lượng hydrogen được ban hành, nhiều nhà đầu tư đã nghiên cứu, đề xuất các dự án sản xuất hydrogen xanh, song phần lớn đang trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư. Tổng Công ty Khí Việt Nam (PV GAS)-đơn vị thành viên của Tập đoàn Công nghiêp-Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) đang tập trung phát triển công nghệ sản xuất hydrogen xanh và amonia xanh.

Một đơn vị thành viên khác của Petrovietnam là Viện Dầu khí Việt Nam (VPI) cũng đang tiến hành nghiên cứu công nghệ cứng hóa CO2 nhằm hỗ trợ giảm phát thải. Các đơn vị thành viên khác của Petrovietnam như Tổng Công ty Lọc hoá dầu Việt Nam (BSR), Tổng Công ty Phân bón và Hoá chất Dầu khí (PVFCCo) và Tổng Công ty Phân bón Dầu khí Cà Mau (PVCFC) đã có kinh nghiệm trong sản xuất hydro xám, tạo tiền đề cho việc chuyển đổi sang hydrogen xanh.

Theo Bộ Công Thương, việc sử dụng hydrogen (chủ yếu xám) hiện được tiêu thụ trong các nhà máy phân đạm (khoảng 316.000 tấn/năm), Nhà máy lọc dầu Dung Quất (39.000 tấn/năm) và Liên hợp lọc hóa dầu Nghi Sơn (139.000 tấn/năm). Lượng nhỏ còn lại phục vụ sản xuất thép, kính nổi, điện tử và thực phẩm (khoảng 0,5% tổng nhu cầu trong nước). Trong khi đó, hydrogen xanh hiện mới ở mức thử nghiệm, chưa sử dụng trong điện, giao thông hay dân dụng.

Một góc Nhà máy Lọc dầu Dung Quất. Ảnh: BSR

Đánh giá về triển vọng phát triển hydrogen xanh tại Việt Nam, Tiến sĩ Mai Duy Tân, Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Tư vấn Đầu tư Phát triển xanh THDV cho biết, hydrogen xanh không chỉ là năng lượng mới mà còn có khả năng trở thành mắt xích trung tâm liên kết nhiều ngành kinh tế.

Theo đó, nguồn sinh khối dồi dào như phụ phẩm nông nghiệp, chất thải chăn nuôi, chất thải hữu cơ sẽ có thể trở thành nguyên liệu đầu vào của chuỗi sản xuất. Sau quá trình xử lý, sinh khối được chuyển hóa thành biogas, biomethane, điện sinh khối và CO2 sinh học. Biomethane có thể được sử dụng để phát điện hoặc hóa lỏng thành Bio-LNG, trong khi CO2 sinh học (sinh ra từ quá trình phân hủy tự nhiên hoặc đốt cháy sinh khối như thực vật, động vật và chất thải hữu cơ) có thể kết hợp với hydrogen xanh để sản xuất khí methanol xanh và nhiên liệu hàng không bền vững (SAF). Nhờ vậy, CO2 sinh học được thu hồi, tái sử dụng trong quá trình sản xuất nhiên liệu, hình thành chu trình carbon tuần hoàn, qua đó vừa giảm phát thải khí nhà kính, vừa nâng cao giá trị của nguồn sinh khối.

Đến thời điểm này, nhiều nước trên thế giới đã có những chính sách hiệu quả để phát triển hydrogen xanh. Tại Nhật Bản, Chính phủ nước này đã triển khai cơ chế “hỗ trợ chênh lệch giá” cho các doanh nghiệp phát triển chuỗi cung ứng hydrogen sạch và các dẫn xuất như ammonia, e-methanol và e-fuels. Trong khi đó, Đức và EU triển khai Cơ chế Dự án Quan trọng vì Lợi ích Chung của châu Âu (IPCEI) cho phép các nước thành viên cùng hỗ trợ tài chính cho các dự án hydrogen quy mô lớn, chiến lược. Ngân hàng European Hydrogen Bank (EHB) cũng hỗ trợ các dự án mở rộng quy mô sản xuất hydrogen tái tạo và phát triển thị trường hydrogen thông qua khoản trợ cấp cố định tính theo EUR/kg hydrogen tái tạo được chứng nhận. Cùng đó, Đức triển khai cơ chế H2 Global - một mô hình đấu giá hai chiều nhằm kết nối nguồn cung hydrogen phát thải thấp toàn cầu với nhu cầu trong nước và EU.

Tiến sĩ Nguyễn Hữu Lương, chuyên gia cao cấp VPI cho biết, Việt Nam đã có những chính sách quan trọng như Quyết định số 876/QĐ-TTg ngày 22/7/2022 về chuyển đổi năng lượng xanh trong giao thông vận tải và Quyết định số 165/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển năng lượng hydrogen. Tuy nhiên, để các chính sách này phát huy tác dụng, nhất là với hydrogen, giải pháp chính là sớm xây dựng hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật và quy chuẩn an toàn cho phương tiện, trạm nạp hydrogen; cơ chế hỗ trợ đầu tư và định giá hydrogen; cũng như các dự án thí điểm để đánh giá hiệu quả kinh tế trước khi mở rộng quy mô.

Trong khi đó, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Hoàng Lương, Phó Chủ tịch Hiệp hội Năng lượng sạch Việt Nam (VCEA) cho biết việc phát triển hydrogen xanh đòi hỏi hệ thống lưới điện xanh đồng bộ cùng hạ tầng lưu trữ năng lượng quy mô lớn, đủ khả năng đáp ứng nhu cầu sản xuất và phân phối.

Bên cạnh đó, Việt Nam cần từng bước làm chủ công nghệ điện phân, thiết bị sản xuất hydrogen và đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao để giảm phụ thuộc vào công nghệ nhập khẩu. Ngoài ra, việc hoàn thiện khung pháp lý, bao gồm hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và cơ chế giá phù hợp đối với hydrogen phát thải thấp là điều kiện quan trọng để tạo niềm tin cho nhà đầu tư và thúc đẩy thị trường phát triển./.


Bài cuối: Lời giải từ tiết kiệm và giảm phát thải của doanh nghiệp

Tin cùng chuyên mục

Triển khai Nghị quyết 70-NQ/TW - Bài 3: Xã hội hóa để hiện thực mục tiêu dự trữ xăng dầu

Việc hoàn thiện hành lang pháp lý và thực hiện cơ chế xã hội hoá sẽ giúp Việt Nam hiện thực mục tiêu nâng mức dự trữ xăng dầu quốc gia lên khoảng 90 ngày nhập ròng vào năm 2030 theo tinh thần Nghị quyết số 70-NQ/TW ngày 20/8/2025 của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Triển khai Nghị quyết 70 -NQ/TW- Bài 2: Chuyển tư duy "đạt mục tiêu" sang "nâng cao năng lực cung ứng thực chất"

Sau một năm thực hiện Nghị quyết số 70-NQ/TW ngày 20/8/2025 của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, ngành điện đang đứng trước yêu cầu quan trọng. Đó là không còn dừng lại ở việc xác định quy mô nguồn điện trên kế hoạch, mà chuyển trọng tâm sang nâng cao năng lực cung ứng thực tế, đảm bảo sự đồng bộ giữa nguồn, lưới và phụ tải trong bối cảnh đáp ứng yêu cầu cho tăng trưởng 2 con số của nền kinh tế.

Triển khai Nghị quyết 70-NQ/TW - Bài 1: Gỡ điểm nghẽn để năng lượng đi trước một bước

Sau 1 năm đi vào thực tiễn, Nghị quyết số 70-NQ/TW (Nghị quyết 70) ngày 20/8/2025 của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 được nhìn nhận là bước chuyển quan trọng trong tư duy hoạch định chính sách năng lượng. Tuy nhiên, trước yêu cầu bảo đảm điện cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số và ứng phó với những biến động địa chính trị toàn cầu, việc tháo gỡ các “điểm nghẽn” thể chế để năng lượng thực sự “đi trước một bước” đang là nhiệm vụ cấp bách.

Một số nhiệm vụ cụ thể thực hiện Chỉ thị nhiệm vụ trọng tâm năm học 2026-2027

Ngày 5/8/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 31/CT-TTg về thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm năm học 2026-2027. Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo; các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan liên quan; Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố đổi mới mạnh mẽ tư duy, phương thức quản lý giáo dục, chuyển mạnh từ tư duy “quản lý giáo dục” sang “quản trị phát triển giáo dục”; tập trung khắc phục triệt để những hạn chế, bất cập, khó khăn, vướng mắc; tiếp tục thực hiện đồng bộ, quyết liệt, hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp đột phá phát triển giáo dục và đào tạo. Theo đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan, các địa phương thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm như: Xây dựng bộ chỉ số theo dõi việc thực hiện các mục tiêu về phát triển giáo dục và đào tạo; Hướng dẫn địa phương về tổ chức, quản trị, quy mô của cơ sở giáo dục trên địa bàn ngay sau khi sắp xếp; của các cơ sở giáo dục, cơ cấu vị trí việc làm và các nội dung cần thiết khác khi thực hiện sắp xếp mạng lưới cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông, thường xuyên công lập; Hướng dẫn các địa phương đẩy mạnh sắp xếp mạng lưới các cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông, thường xuyên công lập phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp…

Đánh thức những dòng kênh giữa lòng TP Hồ Chí Minh

Từ những dòng kênh ô nhiễm, những dãy nhà chật hẹp ven sông, TP Hồ Chí Minh đang bước vào một cuộc tái thiết đô thị quy mô lớn. Phía sau hành trình ấy không chỉ là nguồn lực hàng trăm nghìn tỷ đồng mà còn là bài toán an cư, sinh kế và sự đồng thuận của hàng chục nghìn hộ dân.

Chiến lược xuất nhập khẩu hướng tới nâng cao chất lượng tăng trưởng

Thông tin từ Bộ Công Thương ngày 18/8, Chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 được Bộ Công Thương xây dựng trong bối cảnh yêu cầu nâng cao chất lượng tăng trưởng, củng cố năng lực sản xuất và chủ động thích ứng với biến động thương mại quốc tế ngày càng rõ nét.