![]() |
| Sản phẩm OCOP của Đà Nẵng được tiêu thụ thông qua 26 điểm giới thiệu và bán sản phẩm OCOP tại siêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàng đặc sản, các điểm du lịch, các sàn thương mại điện tử và nhiều kênh phân phối khác. Ảnh: Mỹ Hà - TTXVN |
Từ một sản vật bản địa đến sản phẩm có thương hiệu, chỗ đứng trên thị trường và tạo sinh kế bền vững cho cộng đồng là cả một quá trình chuyển hóa nguồn lực văn hóa thành giá trị kinh tế. Đây cũng là trọng tâm được các đại biểu trao đổi tại Tọa đàm “Hiện thực hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW: Khơi dậy nguồn lực văn hóa, nâng tầm đặc sản vùng đồng bào dân tộc thiểu số” do Tạp chí Công Thương tổ chức chiều 27/8.
Theo các chuyên gia, Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đặt văn hóa trong một vị thế mới: Không chỉ là nền tảng tinh thần cần bảo tồn mà còn là nguồn lực nội sinh, động lực quan trọng của phát triển bền vững. Với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đã lưu giữ hệ thống phong phú về tri thức bản địa, nghề truyền thống, sản vật đặc hữu và các giá trị văn hóa cộng đồng, yêu cầu này càng có ý nghĩa.
Tại toạ đàm, ông Bùi Nguyễn Anh Tuấn- Phó Cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công Thương) cho biết: Sản phẩm của vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đã có bước tiến rõ nét, từ những đặc sản địa phương trở thành hàng hóa hiện diện tại đô thị, hệ thống bán lẻ và từng bước tiếp cận thị trường ngoài nước. Tuy nhiên, có mặt trên thị trường chưa đồng nghĩa với đứng vững trên thị trường. Điểm nghẽn hiện nay nằm ở khoảng cách giữa sản phẩm tốt và năng lực thị trường.
Hiện nay 5 nút thắt chính gồm: nguồn cung và chất lượng chưa ổn định; truy xuất nguồn gốc chưa thực sự trở thành “hộ chiếu niềm tin”; giá trị văn hóa chưa được chuyển hóa hiệu quả thành giá trị thương mại; chi phí logistics cao; và năng lực thương mại của các hợp tác xã, cơ sở sản xuất còn hạn chế. Những yếu tố này khiến nhiều sản phẩm vẫn chủ yếu xuất hiện tại hội chợ, tuần hàng theo mùa vụ, chưa tạo được doanh số và đơn hàng ổn định trong các kênh phân phối hiện đại.
Do đó, giải pháp không phải là công nghiệp hóa bằng mọi giá mà cần chuẩn hóa những khâu có thể chuẩn hóa, đồng thời bảo tồn tri thức, kỹ năng và bản sắc làm nên sự khác biệt của sản phẩm. Truy xuất nguồn gốc cũng cần được nâng lên thành một “hộ chiếu niềm tin”, tích hợp thông tin về vùng nguyên liệu, người sản xuất, tiêu chuẩn chất lượng và hành trình của sản phẩm thay vì chỉ dừng ở những thông tin hành chính.
Cùng đó, cần chuyển câu chuyện văn hóa thành ngôn ngữ của thị trường, từ thiết kế bao bì, nhận diện thương hiệu đến truyền thông số, để người tiêu dùng không chỉ mua một sản phẩm mà còn lựa chọn giá trị và trải nghiệm phía sau sản phẩm. Hạ tầng logistics cũng cần được tổ chức lại với các điểm gom, sơ chế, bảo quản, trung chuyển phù hợp, qua đó giảm chi phí và quan trọng hơn là nâng phần giá trị được giữ lại cho người sản xuất.
Về lâu dài, theo ông Bùi Nguyễn Anh Tuấn cần xây dựng một chuỗi hỗ trợ thống nhất, từ chuẩn hóa sản phẩm, dữ liệu, logistics, hoàn thiện năng lực thương mại đến kết nối và duy trì đơn hàng. Nhà nước cần đồng hành để thu hẹp khoảng cách thông tin, giúp hợp tác xã và cơ sở nhỏ từng bước đáp ứng yêu cầu của hệ thống phân phối hiện đại. Đây cũng là hướng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước đang triển khai, gắn với các chủ trương thúc đẩy thị trường trong nước, kích cầu tiêu dùng và tích hợp các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026-2030. Mục tiêu cuối cùng, không chỉ là đưa đặc sản từ bản làng ra thị trường, mà phải đưa sản phẩm từ quầy giới thiệu vào giỏ hàng thường xuyên của người tiêu dùng, qua đó nâng cao giá trị và thu nhập thực sự cho cộng đồng sản xuất.
Từ góc độ chính sách dân tộc, bà Nguyễn Thị Hồng Huệ, Phó Vụ trưởng Vụ Chính sách, Bộ Dân tộc và Tôn giáo nhìn nhận: Điểm nghẽn lớn nhất là khoảng cách giữa giá trị văn hóa mà cộng đồng đang nắm giữ và giá trị kinh tế mà thị trường có thể tạo ra từ những giá trị đó.
Kết quả điều tra 53 dân tộc thiểu số năm 2024 cho thấy trong gần 3,9 triệu hộ dân tộc thiểu số, chỉ có 6.114 hộ làm dịch vụ du lịch và 10.568 hộ làm nghề thủ công truyền thống, trong khi hơn 2,77 triệu hộ sản xuất nông, lâm, thủy sản. Những con số này cho thấy dư địa chuyển dịch từ tài nguyên văn hóa, tri thức bản địa sang các sản phẩm và ngành nghề có giá trị gia tăng cao còn rất lớn.
Theo bà Nguyễn Thị Hồng Huệ, Các khoảng trống chính: nhận diện và tổ chức giá trị còn yếu; nhiều nghề, sản vật, tri thức bản địa chưa được thiết kế phù hợp thị trường, xây dựng thương hiệu, bảo vệ và khai thác bền vững; liên kết chuỗi giữa Nhà nước - địa phương - doanh nghiệp - cộng đồng chưa chặt chẽ. Do đó, cần giữ 4 nguyên tắc gồm cộng đồng là chủ thể; phát triển nhưng không làm mất bản sắc; bảo đảm cộng đồng được hưởng lợi; chuyển từ hỗ trợ đơn lẻ sang phát triển chuỗi giá trị.
Ông Tống Văn Viện, Giám đốc Hợp tác xã Nông sản Phú Lương chia sẻ: Khó khăn lớn nhất hiện nay là thay đổi thói quen sản xuất của người dân, từ canh tác nhỏ lẻ, dựa vào kinh nghiệm sang quy trình bài bản, hướng tới nông nghiệp tuần hoàn và bền vững. Việc tận dụng phụ phẩm nông nghiệp để sản xuất phân hữu cơ vừa giảm chi phí, vừa nâng cao hiệu quả sản xuất nhưng đòi hỏi thời gian và sự đồng hành để người dân thay đổi cách làm.
Theo ông Tống Văn Viện, khoa học công nghệ và số hóa là yếu tố then chốt để nâng chất lượng sản phẩm, trong đó cần đơn giản hóa truy xuất nguồn gốc để người dân có thể sử dụng thuận tiện ngay trên điện thoại, đồng thời được đào tạo về kỹ thuật và công nghệ sản xuất. Đây cũng là hướng quan trọng để thu hút lực lượng trẻ quay trở lại nông nghiệp, thay vì chuyển dịch hoàn toàn sang các ngành công nghiệp, dịch vụ.
Một hướng đi được hợp tác xã đặc biệt chú trọng là gắn phát triển kinh tế với gìn giữ bản sắc văn hóa Tày. Việc phục dựng đàn Tính, hát Then, đưa văn hóa bản địa vào câu chuyện và trải nghiệm sản phẩm không chỉ góp phần bảo tồn giá trị truyền thống mà còn tạo nét khác biệt, gia tăng giá trị cho nông sản địa phương.
Thời gian tới, ông Tống Văn Viện mong muốn tiếp tục nhận được sự hỗ trợ về khoa học công nghệ, máy móc, đào tạo và chuyển giao kỹ thuật, qua đó xây dựng những sản phẩm đáp ứng nhu cầu của thị trường mới, kể cả thế hệ trẻ, nhưng vẫn giữ được nền tảng văn hóa và giá trị truyền thống. Mục tiêu là lấy giá trị bản địa làm nền tảng, công nghệ làm động lực để nông sản vùng dân tộc thiểu số phát triển bền vững và tạo sinh kế ngay trên quê hương.
Theo ông Nguyễn Đình Tứ, Phó Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Phú Thọ, bảo tồn, phát huy văn hóa gắn với sinh kế là nhiệm vụ liên ngành, cần sự chỉ đạo thống nhất của cấp ủy, chính quyền và phối hợp chặt chẽ giữa các ngành. Trong đó, phải ưu tiên nguồn lực cho vùng khó khăn, tạo sinh kế ổn định, đồng thời tăng kết nối giữa doanh nghiệp, logistics và du lịch để mở rộng đầu ra cho sản phẩm. Các mô hình hiệu quả cần được tổng kết, nhân rộng, không chỉ tại Phú Thọ mà trên phạm vi cả nước.
Ở góc độ du lịch, ông Hoàng Hoa Quân, Phó trưởng phòng Phòng Lữ hành, Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam, cho rằng cần biến du lịch thành “cầu nối” đưa sản phẩm OCOP đến người tiêu dùng, đồng thời gia tăng giá trị bằng cách gắn sản phẩm với câu chuyện văn hóa, tri thức bản địa và đặc trưng vùng miền. Hai hướng đột phá được đề xuất là lựa chọn sản phẩm OCOP tiêu biểu làm “Đại sứ du lịch”, kết nối với doanh nghiệp lữ hành; đồng thời hình thành các điểm “hub” phân phối tại điểm du lịch, nhà ga, bến xe, khách sạn, khu nghỉ dưỡng..., tạo thuận lợi để du khách tiếp cận và mua sản phẩm.
Từ góc độ phát triển thị trường, ông Bùi Nguyễn Anh Tuấn nhấn mạnh: Tới đây cần chuyển từ tư duy “đưa sản phẩm đi giới thiệu” sang xây dựng năng lực để sản phẩm cạnh tranh và bán được lâu dài. Trọng tâm là phân nhóm sản phẩm và thị trường để hỗ trợ đúng nhu cầu; nâng truy xuất nguồn gốc thành “hộ chiếu sản phẩm”; chuyển từ quảng bá ngắn hạn sang kết nối đơn hàng có cam kết và hình thành chuỗi liên kết giữa người dân, hợp tác xã, doanh nghiệp, logistics và phân phối. Quan trọng hơn, hiệu quả phải được đo bằng doanh số, đơn hàng, thu nhập và việc làm bền vững; trong đó đồng bào phải thực sự là chủ thể và được ghi nhận quyền đối với tri thức, giá trị văn hóa và được hưởng lợi công bằng từ phần giá trị gia tăng./.

