Nuôi dưỡng nguồn thu, tạo dư địa cho tăng trưởng
Mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức hai con số đặt ra yêu cầu ngày càng lớn về nguồn lực. Vì vậy, thu ngân sách không chỉ nằm ở quản lý chặt các khoản thu hiện hữu mà quan trọng hơn là mở rộng cơ sở thu thông qua phát triển sản xuất, kinh doanh. Khi doanh nghiệp tăng quy mô, hộ kinh doanh lớn lên, việc làm và thu nhập tăng, nguồn thu ngân sách cũng có thêm nền tảng để tăng trưởng bền vững.
Thu ngân sách nhà nước 8 tháng năm 2026 tăng 16% so với cùng kỳ năm trước. Ảnh: baochinhphu.vn


Thu ngân sách nhà nước 8 tháng năm 2026 ước đạt 2.023,8 nghìn tỷ đồng, bằng 80% dự toán và tăng 16% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, thu nội địa đạt 1.752,9 nghìn tỷ đồng, tăng 16,6%, chiếm 86,6% tổng thu; thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 223,9 nghìn tỷ đồng, tăng 7,9%. Đáng chú ý, thu từ ba khu vực kinh tế đạt 895,3 nghìn tỷ đồng, bằng 87,8% dự toán và tăng 35,8% so với cùng kỳ.

Tỷ trọng lớn của thu nội địa, cùng mức tăng mạnh từ ba khu vực kinh tế, cho thấy hoạt động sản xuất, kinh doanh trong nước đang tiếp tục là nền tảng quan trọng của nguồn thu. Do đó, bên cạnh yêu cầu thu đúng, thu đủ, việc tạo điều kiện để doanh nghiệp duy trì và mở rộng hoạt động có ý nghĩa trực tiếp đối với khả năng mở rộng nguồn thu những năm tới.

Trong 8 tháng, cả nước có gần 138,1 nghìn doanh nghiệp thành lập mới, tăng 7,7% so với cùng kỳ, với tổng vốn đăng ký gần 1.708,3 nghìn tỷ đồng, tăng 36,2%. Tính cả doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, có gần 206,4 nghìn doanh nghiệp gia nhập và trở lại thị trường. Tuy nhiên, hơn 40,8 nghìn doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 125,5%.

Điều này cho thấy dư địa mở rộng nguồn thu còn lớn, nhưng để khai thác được dư địa đó, trước hết phải tạo điều kiện để doanh nghiệp tồn tại và phát triển.

Trong bối cảnh đó, các chính sách tài khóa hỗ trợ doanh nghiệp và người dân tiếp tục được triển khai. Tám tháng năm 2026, tổng số tiền thuế, phí và tiền thuê đất được miễn, giảm, gia hạn khoảng 209,2 nghìn tỷ đồng. Việc giảm hoặc giãn nghĩa vụ tài chính trong ngắn hạn đồng nghĩa ngân sách chấp nhận chưa thu một phần nguồn lực tại thời điểm hiện tại, đổi lại doanh nghiệp và người dân có thêm dòng tiền để duy trì hoạt động, sản xuất và tiêu dùng. Dù chính sách hỗ trợ tiếp tục được thực hiện, tổng thu ngân sách 8 tháng vẫn tăng 16% so với cùng kỳ.

Bà NT.H, giám đốc một doanh nghiệp sản xuất nhựa tại Hà Nội, cho biết doanh nghiệp đang tính toán mở rộng một dây chuyền sản xuất trong năm tới. Nhưng quyết định đầu tư phụ thuộc nhiều vào chi phí vốn, thị trường đầu ra và thời gian hoàn tất thủ tục.

“Doanh nghiệp không chỉ quan tâm được giảm bao nhiêu tiền thuế. Điều quan trọng là tổng chi phí để đưa một dự án vào hoạt động và khả năng dự báo chính sách trong vài năm tới. Nếu thủ tục được rút ngắn, doanh nghiệp có thể đưa vốn vào sản xuất sớm hơn, tạo doanh thu và việc làm sớm hơn”, bà H nói.

Theo bà H, khi doanh nghiệp mở rộng sản xuất, ngân sách có thể tăng thu từ nhiều nguồn, từ thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp đến thuế thu nhập cá nhân của người lao động. Vì vậy, giảm chi phí kinh doanh và tăng khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp cũng là cách tạo nguồn thu về dài hạn.

Các chính sách thuế hỗ trợ doanh nghiệp, hộ kinh doanh phát triển. Ảnh: Dương Hải/Bnews/vnanet.vn

Các chỉ số kinh tế 8 tháng cho thấy cơ sở cho nguồn thu đang tiếp tục được mở rộng. Chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 11,9% so với cùng kỳ. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 5.235,5 nghìn tỷ đồng, tăng 13,3%; nếu loại trừ yếu tố giá, tăng 7,6%. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt hơn 770 tỷ USD, tăng mạnh so với cùng kỳ, tạo thêm nguồn thu từ hoạt động xuất nhập khẩu và phản ánh sự gia tăng của dòng hàng hóa qua nền kinh tế.

Ở khu vực hộ kinh doanh, yêu cầu này càng rõ. Theo Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), khu vực hộ kinh doanh đang chịu sức ép từ chi phí đầu vào, mặt bằng và thị trường tiêu thụ; đồng thời cần tiếp tục giảm độ phức tạp của các quy định về thuế, kế toán và hóa đơn điện tử, nhất là đối với nhóm hộ siêu nhỏ.

Chị Thu Thủy, chủ một cửa hàng ăn uống tại Hà Nội, cho biết doanh thu tăng chưa đồng nghĩa lợi nhuận tăng do chi phí thuê mặt bằng, nguyên liệu, vận chuyển và nhân công đều tăng.

“Nếu thủ tục thuế thuận tiện hơn, chúng tôi sẽ có thêm thời gian tập trung vào việc kinh doanh. Khi hoạt động thuận lợi, hộ cũng có điều kiện nhập thêm hàng, mở rộng cửa hàng hoặc thuê thêm người", chị Thủy nói.

Với hàng triệu hộ kinh doanh, việc giảm chi phí tuân thủ, đơn giản hóa thủ tục và hỗ trợ chuyển đổi không chỉ giúp hoạt động kinh doanh thuận lợi hơn mà còn có thể tạo động lực để những hộ có quy mô lớn chuyển sang mô hình doanh nghiệp, qua đó mở rộng cơ sở thu.

Chuyên gia kinh tế Nguyễn Quang Huy, Khoa Tài chính - Ngân hàng, Trường Đại học Nguyễn Trãi, cho rằng giảm thuế chỉ là một mắt xích trong chính sách hỗ trợ tăng trưởng. Theo ông, để chính sách phát huy hiệu quả, cần đặt trong một hệ sinh thái đồng bộ về thị trường, tín dụng, công nghệ, hạ tầng và cải cách môi trường kinh doanh. Khi nguồn lực được giải phóng từ chính sách thuế được chuyển thành đầu tư, đổi mới công nghệ và mở rộng sản xuất, tác động tới tăng trưởng và nguồn thu ngân sách sẽ lớn hơn.

Song song với các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp, ngành thuế đang yêu cầu đặt ra là vừa hỗ trợ người nộp thuế, vừa mở rộng cơ sở thu và chống thất thu. Việc quản lý dựa trên dữ liệu, phân tích rủi ro và tập trung vào những lĩnh vực có nguy cơ thất thu cao giúp cơ quan thuế sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn, đồng thời hạn chế tạo thêm chi phí kiểm tra đối với doanh nghiệp tuân thủ tốt.

Cùng với yêu cầu quản lý thu đúng, thu đủ, cơ quan thuế cũng đang chuyển mạnh sang phương thức lấy người nộp thuế làm trung tâm. Cục trưởng Cục Thuế Mai Xuân Thành từng nhấn mạnh ngành thuế không chỉ thực hiện chức năng quản lý mà còn phải đồng hành, hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho hộ kinh doanh trong quá trình chuyển đổi và thực hiện nghĩa vụ thuế./.


Tin liên quan

Lấy năng suất và công nghệ làm động lực cho tăng trưởng

Trong Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia có nhấn mạnh đến phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang là yếu tố quyết định phát triển của các quốc gia.

Nghị quyết số 20-NQ/TW: Biến không gian mới thành động lực tăng trưởng lâu dài

Nghị quyết số 20-NQ/TW mở ra tầm nhìn chiến lược đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh với mục tiêu các tỉnh thành ven biển đóng góp trên 70% GDP cả nước đến năm 2030. Trước yêu cầu đô thị hóa nhanh đòi hỏi phải tìm kiếm những không gian phát triển mới, Luật Phát triển đô thị 2026 được thông qua với cơ chế cho các dự án lấn biển - được kỳ vọng sẽ mở rộng không gian phát triển, kiến tạo các cực tăng trưởng mới và biến tiềm năng kinh tế biển thành động lực bứt phá lâu dài.

Tăng trưởng GDP 2 con số: Ngành điện bước vào chu kỳ phát triển mới

Mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10%/năm trở lên giai đoạn 2026-2030 đặt ra yêu cầu mở rộng nhanh nguồn điện, lưới truyền tải và năng lực điều hành, đáp ứng nhu cầu gia tăng từ sản xuất công nghiệp, AI, trung tâm dữ liệu, giao thông điện hóa… Bởi phía sau mỗi nhà máy, dây chuyền sản xuất hay trung tâm dữ liệu vẫn là một điều kiện nền tảng: Nguồn điện đủ và ổn định.

Tin cùng chuyên mục

Tăng trưởng GDP 2 con số: Ngành điện bước vào chu kỳ phát triển mới

Mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10%/năm trở lên giai đoạn 2026-2030 đặt ra yêu cầu mở rộng nhanh nguồn điện, lưới truyền tải và năng lực điều hành, đáp ứng nhu cầu gia tăng từ sản xuất công nghiệp, AI, trung tâm dữ liệu, giao thông điện hóa… Bởi phía sau mỗi nhà máy, dây chuyền sản xuất hay trung tâm dữ liệu vẫn là một điều kiện nền tảng: Nguồn điện đủ và ổn định.

Củng cố lòng tin, mở rộng hợp tác và chủ động đóng góp cho tương lai chung của nhân loại

Nhân dịp Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tham dự Phiên thảo luận chung cấp cao Đại hội đồng Liên hợp quốc (LHQ) Khóa 81 và có các hoạt động song phương tại Hoa Kỳ từ ngày 20/9, Đại sứ Đỗ Hùng Việt, Trưởng phái đoàn thường trực Việt Nam tại LHQ, ngày 17/9 đã trả lời phỏng vấn phóng viên TTXVN tại New York về ý nghĩa của chuyến công tác đối với quan hệ Việt Nam-LHQ, cũng như quan hệ song phương với Hoa Kỳ.

Đại sứ Nguyễn Quốc Dũng: Việt Nam-Hoa Kỳ có nhiều dư địa thúc đẩy hợp tác

Nhân dịp Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tham dự Phiên thảo luận chung cấp cao Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 81 và có các hoạt động song phương tại Hoa Kỳ từ ngày 20/9, Đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ Nguyễn Quốc Dũng đã trả lời phỏng vấn TTXVN về ý nghĩa của chuyến công tác lần này đối với quan hệ song phương, cũng như những lĩnh vực hợp tác có nhiều dư địa và cần được ưu tiên thúc đẩy trong thời gian tới.

Việt Nam đạt nhiều kết quả về công tác bảo vệ trẻ em

Thời gian qua, công tác bảo vệ trẻ em tại Việt Nam đạt nhiều kết quả đáng ghi nhận. Hệ thống chính sách, pháp luật ngày càng được hoàn thiện. Hơn 80% trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được trợ giúp phù hợp với nhu cầu, điều kiện phát triển kinh tế-xã hội của từng địa phương. Tỷ lệ trẻ em lao động trái quy định của pháp luật giảm đáng kể, từ 5,4% xuống còn 1,31%. 100% trẻ em bị xâm hại được áp dụng các biện pháp hỗ trợ, can thiệp phù hợp. Hệ thống dịch vụ bảo vệ trẻ em được triển khai theo 3 cấp độ, gồm phòng ngừa, hỗ trợ và can thiệp. Tổng đài điện thoại quốc gia bảo vệ trẻ em 111 tiếp tục phát huy vai trò trong tiếp nhận thông tin, phối hợp xử lý kịp thời các vụ việc vi phạm quyền trẻ em. Ngày 8/9/2026, Việt Nam cũng chính thức khai trương Tổng đài phòng, chống bạo lực gia đình số 117. Những kết quả trên đã góp phần khẳng định cam kết mạnh mẽ của Việt Nam trong việc thực hiện Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em.

Nghị quyết số 26-NQ/TW: Nhiệm vụ, giải pháp phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới (Phần 3 và hết)

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã ký ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 22/8/2026 về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới. Nghị quyết đề ra mục tiêu: Phát triển du lịch Việt Nam chất lượng cao, thông minh, xanh, sáng tạo, giàu bản sắc văn hoá, có giá trị gia tăng cao; có năng lực cạnh tranh khu vực và quốc tế, có sức lan toả mạnh đối với các ngành, lĩnh vực khác, tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đổi mới sáng tạo, phát triển bền vững. Nâng cao tỉ lệ đóng góp của ngành du lịch vào tăng trưởng kinh tế; gắn phát triển du lịch với phát triển công nghiệp văn hóa, góp phần quảng bá hình ảnh đất nước, con người, nâng cao vị thế, uy tín và sức mạnh mềm quốc gia. Phấn đấu đến năm 2045, du lịch Việt Nam phát triển hiện đại, bền vững, khẳng định vai trò động lực của nền kinh tế, đóng góp trực tiếp từ 14 - 15% GDP; thuộc nhóm 30 quốc gia có năng lực cạnh tranh du lịch hàng đầu thế giới; là điểm đến du lịch hấp dẫn, chất lượng cao, đẳng cấp và mang đậm bản sắc Việt Nam; phấn đấu đón 70 triệu lượt khách du lịch quốc tế.

Nghị quyết số 26-NQ/TW: Mục tiêu chung về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới (Phần 2)

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã ký ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 22/8/2026 về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới. Nghị quyết đề ra mục tiêu: Phát triển du lịch Việt Nam chất lượng cao, thông minh, xanh, sáng tạo, giàu bản sắc văn hoá, có giá trị gia tăng cao; có năng lực cạnh tranh khu vực và quốc tế, có sức lan toả mạnh đối với các ngành, lĩnh vực khác, tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đổi mới sáng tạo, phát triển bền vững. Nâng cao tỉ lệ đóng góp của ngành du lịch vào tăng trưởng kinh tế; gắn phát triển du lịch với phát triển công nghiệp văn hóa, góp phần quảng bá hình ảnh đất nước, con người, nâng cao vị thế, uy tín và sức mạnh mềm quốc gia. Phấn đấu đến năm 2045, du lịch Việt Nam phát triển hiện đại, bền vững, khẳng định vai trò động lực của nền kinh tế, đóng góp trực tiếp từ 14 - 15% GDP; thuộc nhóm 30 quốc gia có năng lực cạnh tranh du lịch hàng đầu thế giới; là điểm đến du lịch hấp dẫn, chất lượng cao, đẳng cấp và mang đậm bản sắc Việt Nam; phấn đấu đón 70 triệu lượt khách du lịch quốc tế.

Nghị quyết số 26-NQ/TW: Quan điểm chỉ đạo về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới (Phần 1)

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã ký ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 22/8/2026 về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới. Nghị quyết đề ra mục tiêu: Phát triển du lịch Việt Nam chất lượng cao, thông minh, xanh, sáng tạo, giàu bản sắc văn hoá, có giá trị gia tăng cao; có năng lực cạnh tranh khu vực và quốc tế, có sức lan toả mạnh đối với các ngành, lĩnh vực khác, tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đổi mới sáng tạo, phát triển bền vững. Nâng cao tỉ lệ đóng góp của ngành du lịch vào tăng trưởng kinh tế; gắn phát triển du lịch với phát triển công nghiệp văn hóa, góp phần quảng bá hình ảnh đất nước, con người, nâng cao vị thế, uy tín và sức mạnh mềm quốc gia. Phấn đấu đến năm 2045, du lịch Việt Nam phát triển hiện đại, bền vững, khẳng định vai trò động lực của nền kinh tế, đóng góp trực tiếp từ 14 - 15% GDP; thuộc nhóm 30 quốc gia có năng lực cạnh tranh du lịch hàng đầu thế giới; là điểm đến du lịch hấp dẫn, chất lượng cao, đẳng cấp và mang đậm bản sắc Việt Nam; phấn đấu đón 70 triệu lượt khách du lịch quốc tế.

Một năm thực hiện Nghị quyết 71-NQ/TW: Một số nhiệm vụ trọng tâm thời gian tới

Văn phòng Trung ương Đảng đã ban hành Thông báo kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại buổi làm việc với các cơ quan về kết quả 1 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW, ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Thông báo số 160-TB/VPTW, ngày 29/8/2026). Thông báo đề ra một số nhiệm vụ trọng tâm thời gian tới: Tiếp tục tổ chức thực hiện quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả Nghị quyết số 71-NQ/TW, chuyển mạnh từ hoàn thiện thể chế, chính sách sang tổ chức thực hiện, đưa Nghị quyết vào cuộc sống và tạo kết quả cụ thể, thực chất. Tập trung bảo đảm các điều kiện thiết yếu cho giáo dục, trước hết là mục tiêu “đủ trường, đủ lớp, đủ giáo viên”. Tạo đổi mới thực chất từ bên trong ngành Giáo dục. Giáo dục đi trước một bước để chuẩn bị nguồn nhân lực và nhân tài cho tương lai đất nước. Thúc đẩy mạnh mẽ chuyển đổi số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), nhưng cần đặt công nghệ đúng vị trí là phương tiện giáo dục, không thay thế bản chất nhân văn của giáo dục. Đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo, quản lý và tổ chức thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW; xác định rõ trách nhiệm của người đứng đầu.